Các di tích cung điện của Hoàng thành Thăng Long - Phương pháp đo lường và quy hoạch xây dựng

23/04/2016

Dựa trên những kết quả khai quật đã được thực hiện trên phần lớn khu di tích, tôi nhận thấy rằng, các dấu tích của Hoàng thành Thăng Long đã được tính toán bởi một phép đo lường tỉ mỉ, chính xác. Trong khi tôi nghiên cứu các bản thảo di tích của các đồng nghiệp Việt Nam, công việc điều tra đã không được thực hiện bằng các phương pháp thỏa đáng cho việc phân tích các kiến trúc rộng lớn trong phạm vi Hoàng thành Thăng Long. Do đó, chúng tôi quyết định bước đầu của dự án hợp tác là phối hợp làm việc để đưa ra phương pháp điều tra khảo cổ học phù hợp, cần thiết cho các điều tra khai quật quy mô lớn. Dưới đây là tóm tắt về cuộc điều tra khảo cổ học đã được chúng tôi tiến hành cùng các nghiên cứu viên Việt Nam và cùng một số điểm nhấn của quy hoạch xây dựng Hoàng thành Thăng Long mà chúng tôi có thể nhận diện được dựa trên phân bố dấu tích kiến trúc đã được thu thập.

1. LỜI DẪN

Lần đầu tiên tôi đến Hoàng thành Thăng Long là 10 năm trước, vào tháng 6 năm 2004. Chuyến thăm đó không phải vì những dự án hợp tác Việt Nam – Nhật Bản sau này, mà là đáp ứng yêu cầu của phía Việt Nam về việc thực hiện khảo sát điều tra di tích Hoàng thành Thăng Long từ tháng 10/2002, để từ đó có quyết sách cho việc bảo tồn di tích, cũng như đáp ứng mong muốn thu thập ý kiến của chuyên gia Nhật Bản về kết quả điều tra và phương thức bảo tồn.

Khi tôi lần đầu tiên được xem hiện trạng khai quật của Hoàng thành Thăng Long, với vô vàn kiến trúc cung điện, phần lớn trong số chúng được xây dựng bằng gạch, tôi đã thực sự sửng sốt với mức độ tàn phá khủng khiếp mà khu di tích đã trải qua. Tôi cũng không thể không lo sợ rằng, để phân tích chính xác khu vực khai quật rộng lớn gần 2 hecta này, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và hạn chế.

 

Hình 1: Nguyên Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi đến thăm khu di tích Hoàng thành Thăng Long tháng 10 năm 2014

và đặt kế hoạch cho chương trình hợp tác Nhật - Việt trong lĩnh vực nghiên cứu bảo tồn khu di tích. (Ảnh: Nguyễn Hữu Thiết)


Căn cứ trên những phát triển đa dạng của hiện trạng di tích và những thảo luận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, một dự án hợp tác nghiên cứu và bảo tồn Khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã được khởi động vào năm 2006. Tôi được tham gia nhóm với tư cách hỗ trợ phân tích về khu di tích và đã thu nhận được nhiều kinh nghiệm quý báu khi làm việc trên một di tích hoàng cung hiếm có như khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

2. KHỞI ĐIỂM CỦA DỰ ÁN HỢP TÁC

Tôi bắt đầu tham gia trực tiếp Dự án hợp tác nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long vào cuối năm 2006. Cùng với TS. Kunikazu Ueno và các nghiên cứu viên trẻ Việt Nam. Chúng tôi đã quỳ gối trên mặt đất của khu di tích để bắt đầu quy trình xác thực các kết quả khai quật.

Một số sơ đồ phân bố các dấu tích kiến trúc đã được công bố rộng rãi. Chúng thể hiện kết quả của cuộc điều tra khai quật đã được tiến hành từ 2002 đến 2004 do Viện Khảo cổ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện. Tuy nhiên, thành thật mà nói thì những sơ đồ phân bố này không làm rõ thấu đáo, chi tiết về những loại hình, vị trí và cấu trúc di tích trong khu vực mà chúng tôi đã điều tra. Quan điểm chung giữa các thành viên tham gia của Việt Nam và Nhật Bản là xác định rõ ràng cơ sở cho việc bảo tồn từng di tích cũng như toàn bộ di tích để tìm kiếm một nhận thức rõ ràng về các dấu tích đã được phát hiện và đó là ưu tiên hàng đầu để thực hiện.

 
Hình 2-3: Hoạt động tái điều tra nghiên cứu khảo cổ học của đoàn chuyên gia Nhật Bản tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2006 - 2008 (Ảnh: Nguyễn Hữu Thiết)
     

3. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỀU TRA KHẢO CỔ HỌC

Dựa trên những kết quả khai quật đã được thực hiện trên phần lớn khu di tích, tôi nhận thấy rằng, các dấu tích của Hoàng thành Thăng Long đã được tính toán bởi một phép đo lường tỉ mỉ, chính xác. Trong khi tôi nghiên cứu các bản thảo di tích của các đồng nghiệp Việt Nam, công việc điều tra đã không được thực hiện bằng các phương pháp thỏa đáng cho việc phân tích các kiến trúc rộng lớn trong phạm vi Hoàng thành Thăng Long. Do đó, chúng tôi quyết định bước đầu của dự án hợp tác là phối hợp làm việc để đưa ra phương pháp điều tra khảo cổ học phù hợp, cần thiết cho các điều tra khai quật quy mô lớn.

Dưới đây là tóm tắt về cuộc điều tra khảo cổ học đã được chúng tôi tiến hành cùng các nghiên cứu viên Việt Nam và cùng một số điểm nhấn của quy hoạch xây dựng Hoàng thành Thăng Long mà chúng tôi có thể nhận diện được dựa trên phân bố dấu tích kiến trúc đã được thu thập. 

4. THIẾT LẬP HỆ THỐNG TỌA ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG CHO DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

Vấn đề đầu tiên là thiết lập hệ thống tọa độ địa phương cho di tích Thăng Long. Vì di tích có thể được hiển thị trong các bản vẽ thế kỷ 19 và trên nền vị trí của điện Kính Thiên, cổng Đoan Môn và sơ đồ hiện trạng còn tồn tại hiện nay. Chúng ta ít nhất có thể biết phương vị xây dựng của Hoàng thành Thăng Long dưới triều đại nhà Nguyễn và nhà Lê không nằm chính xác theo chiều Bắc – Nam. Ngoài ra, các dấu tích của thời Lý và muộn hơn được tìm thấy qua điều tra khai quật cũng có phân bố như hiện tại, có thể nói, phương vị hướng về phía Bắc và hơi nghiêng sang Đông.

Trong khi đó, các kiến trúc và dấu tích khác mà chúng tôi tìm thấy qua cuộc khai quật được phân tích trên một bố cục đo lường chính xác, một phương pháp đo đạc dựa trên hệ thống trắc địa phổ biến trên thế giới với một định tuyến địa lý thích hợp sẽ cho thấy sự khác biệt lớn với hướng xây dựng của các dấu tích khai quật thực tế, và do đó, việc thực hiện công tác phân tích là rất khó khăn. Do vậy, khi xem xét về sự phát triển khả thi sau này cho di tích Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi quyết định tạo ra một hệ thống tọa độ địa phương chuyên biệt cho di tích này.

Nếu đường tham chiếu cho phương vị của hệ thống tọa độ Hoàng thành Thăng Long là một đường được nối từ một điểm tại trung tâm của nền điện Kính Thiên và một điểm trung tâm của cổng Đoan Môn thì chúng tôi thấy rằng, phương vị của đường trục nghiêng 4059’ về phía Đông tại phần đuôi Bắc so với phương vị của hệ thống trắc địa toàn cầu là hướng Bắc – Nam. Để tạo ra cơ sở thuận lợi cho các nghiên cứu di tích trong tương lai, chúng tôi đã quyết định thiết lập đường tham chiếu Bắc – Nam mà trong đó phần cuối Bắc tạo thành một góc nghiêng Đông làm tròn là 50, và thiết lập đường Đông Tây đi qua điểm phía trước của nền điện Kính Thiên tạo một góc 90 độ.

Việc nghiên cứu đòi hỏi không chỉ sử dụng các thiết bị khảo sát tích hợp công nghệ tối tân nhất mà còn cần các tính toán sử dụng nhiều phương trình rất phức tạp cho việc chuyển đổi từ hệ thống trắc địa toàn cầu sang hệ thống tọa độ địa phương của di tích Thăng Long. Mặc dù trong khuôn khổ thời gian hạn chế cho công tác đào tạo khảo sát, các nghiên cứu viên trẻ Việt Nam không gặp khó khăn gì khi tiếp thu toàn bộ các kiến thức và kỹ năng cần thiết để tự thực hiện các công việc điều tra khảo sát trên di tích.

Sau một năm, tháng 5 năm 2008, khi nhận được thông tin rằng bản vẽ sơ bộ về khu A-B đã hoàn thành, tôi trở lại Hà Nội. Tôi khá ấn tượng với bản vẽ di tích mới, vì chúng đáp ứng đầy đủ chất lượng cần thiết cho công tác nghiên cứu chi tiết di tích.

Tại một góc của văn phòng nghiên cứu của Ban Chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long, một phòng làm việc cho chúng tôi được chuẩn bị. Trong suốt một tuần, chúng tôi mang theo các bản vẽ đối chiếu trên mặt bằng di tích (đôi lúc cùng với cả các nghiên cứu viên Việt Nam), rồi mang chúng trở lại phòng làm việc và tiếp tục nghiên cứu di tích bằng thước và máy tính. Dù tôi đã có kinh nghiệm làm việc trên các di tích khảo cổ như Heijokyo – Nhật Bản, nhưng công việc phân tích trên một di tích quy mô lớn như Hoàng thành Thăng Long thực sự là một công việc quan trọng và thú vị.

5. NGHIÊN CỨU VỀ THƯỚC ĐO XÂY DỰNG

Khi phân tích, nghiên cứu di tích có cấu trúc phức tạp, đồ sộ trên qui mô lớn như Hoàng thành Thăng Long, yêu cầu đầu tiên là phải xác định phép đo lường và tỉ lệ được sử dụng trong thiết kế cấu trúc. Tôi xin phép không đi vào qui trình chi tiết, nhưng có thể xác định căn cứ vào các chân tảng kê cột trong kiến trúc vẫn nằm tại các vị trí nguyên gốc. Mặc dù, chỉ còn một số chân tảng tại khu A và B nhưng chúng tương đối nằm gần nhau. Căn cứ trên các vị trí của chân tảng, chúng tôi giả thuyết rằng có một đơn vị shaku được sử dụng trong việc thiết kế Hoàng cung Thăng Long dưới thời Lý với kích thước 29,9cm/shaku. Khi chúng tôi phân tích khu di tích và sử dụng độ dài này như một thước đo tiêu chuẩn cho việc xây dựng, chúng tôi đã tìm thấy nhiều phát hiện liên quan đến qui hoạch hai chiều của các đơn nguyên kiến trúc và mối quan hệ về vị trí giữa các công trình kiến trúc.

Một ví dụ về các phát hiện của chúng tôi là kiến trúc dài nằm theo chiều Bắc Nam tại trung tâm khu B[1]. Phần lớn phần nền của nó đã bị phá hủy và không còn dấu tích chân tảng, nhưng đa số các móng trụ phía dưới chân tảng thì vẫn còn. Khi chúng tôi xem xét 13 khoảng cách giữa các cột phía trước, khoảng cách giữa các cột hàng cuối ở phía Bắc và Nam nhỏ hơn nhiều so với các khoảng cách khác, phần cuối Nam là 8 shaku và phần cuối Bắc là 5 shaku. Chúng tôi thấy rằng 11 khoảng cách khác đều là 17 shaku, hay xấp xỉ 5,1m. Điều thú vị là tổng chiều dài của 13 khoảng cánh hợp lại, có thể tính như sau 8+5 (17x11), tạo thành một tổng chính xác là 200 shaku (khoảng 59,8m); điều này cho thấy qui hoạch tổng thể được tính toán, phân chia bằng những con số rất có trật tự.

6. QUI MÔ TỔNG THỂ CỦA KIẾN TRÚC HOÀNG CUNG

Trong các kiến trúc của khu A-B, kiến trúc lớn nhất là công trình kiến trúc hướng Đông – Tây tìm thấy tại phần cuối phía Nam khu A. Cao độ của kiến trúc cho thấy, so với các kiến trúc khác, nó được xây dựng trên nền cao nhất trong khu A-B.  Khoảng cách giữa các cột là từ 20-22 shaku hay 6,0-6,6m. Vì khoảng cách giữa các cột trong cung điện lớn nhất Daikoku-den (Chính điện cũ) của Heijokyo là 18 shaku (tương đương 5,4m) nên chúng tôi cho rằng kiến trúc này có qui mô kết cấu còn lớn hơn. Tại phía Bắc của kiến trúc qui mô lớn này có một đoạn thấp hơn một chút, trên đó có một hành lang hẹp và dài có kết cấu nằm theo hướng Đông – Tây và phía bên kia có một bức tường rộng 9 shaku trên một nền thấp cũng theo chiều đông tây. Dựa trên các căn cứ này, tôi suy đoán rằng, công trình kiến trúc quy mô lớn có hướng chạy theo chiều Đông – Tây này là một cung điện vô cùng quan trọng về chính trị của Hoàng thành Thăng Long.

 

   
BV.01: Nhận thức của các chuyên gia Nhật Bản về tổng thể mặt bằng di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long, tháng 10/2008 (Bản vẽ của Kazuto Inoue)     BV.02: Nhận thức của các chuyên gia Việt Nam về tổng thể mặt bằng di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long, tháng 05/2006 (Bản vẽ của Trương Hữu Nghĩa)


Kiến trúc lục giác với đường kính 9 shaku (khoảng 2,7m) cho thấy nó có kết cấu rất nhỏ. Trên bề mặt của một hiện vật gạch tìm thấy trong di tích Thăng Long có thể hiện hình ảnh của một tòa tháp. Quan sát kỹ hơn thì đó là một tòa tháp lục giác chín tầng. Vì nó thể hiện sự ảnh hưởng của Phật giáo với chín tầng lầu nên chính xác hơn có thể gọi nó là một tòa lầu hơn là một tòa tháp. Nói theo cách khác, có thể xác định là một tòa lầu lục giác chín tầng. Với hình ảnh trên gạch đã được cách điệu đáng kể thì trên các căn cứ là các móng trụ thì có một hệ thống phức hợp lầu lục giác được xây dựng theo một hàng. Do đó, nhiều khả năng là kiến trúc lục giác ở phía Tây của công trình kiến trúc có hướng Bắc Nam là các kiến trúc lầu chín tầng tương tự như hình ảnh thể hiện trên những viên gạch (xem Hình 4; BV.04).Thêm một ví dụ khác, chúng ta hãy nhìn vào các dấu tích kiến trúc. Có một nhóm công trình kiến trúc được quy hoạch theo hình thái lục giác rất đặc biệt trong khu vực Hoàng thành Thăng Long. Cấu trúc của các di tích cho thấy, phía Tây của công trình qui mô lớn chạy theo chiều Bắc – Nam nằm tại trung tâm khu A là 11 cụm móng trụ có cấu trúc tương tự tạo thành một hàng theo chiều Bắc – Nam. Thêm vào đó, phần cuối phía Tây của hố D4-5-6 cũng xuất hiện 3 cụm móng trụ chạy theo chiều Bắc – Nam với kết cấu tương tự. Vì có một lượng lớn các di tích đã bị phá hủy nên khi chúng tôi thực hiện khôi phục các cấu trúc dựa trên những gì còn sót lại thì chúng tôi nhận thấy có một phần nền hai cấp, gồm 01 phần nền hình chữ nhật dài 20 shaku theo chiều Bắc – Nam và rộng 18 shaku theo chiều Đông – Tây; tại phần đỉnh của chúng là một phần nền hình tròn có đường kính là 14 shaku hay 4,2m. Phía trên của phần nền hình tròn là kiến trúc lục giác. Đặc điểm của loại hình kiến trúc này là một móng trụ hình vuông nằm ở giữa để đặt chân tảng và xung quanh nó là 06 móng trụ tròn. Các móng trụ này được xây dựng khá là sâu. Các khảo sát cho thấy độ sâu của chúng là 1,8m và thực tế này cũng chỉ ra rằng đã từng có một kiến trúc cực kỳ nặng được xây dựng phía trên (xem BV.01).

Các kiến trúc lục giác chín tầng qui mô nhỏ được bố trí cách nhau từ 26 đến 30 shaku. Tuy nhiên, chỉ có khoảng cách giữa lầu thứ ba và lầu thứ tư rộng hơn so với các lầu khác là 40 shaku. Điều thú vị là kiến trúc Bắc Nam nằm ngay ở phía Đông có các hàng cột ở mặt trước cách nhau 19 shaku, ngoại trừ điểm có lầu lục giác, nơi có các khoảng cách cột phía trong rộng hơn là 20 shaku. Thêm nữa, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong sơ đồ phục dựng là khoảng cách 20 shaku được tạo ra phù hợp với kích thước bên trong của móng nền hình chữ nhật trong hai kiến trúc lục giác phía Tây.

     
      BV.03: Mặt bằng tổng thể kiến trúc thời Lý khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Nhận thức cơ bản của các chuyên gia Nhật Bản tính đến thăng 11/2008. Bản vẽ của Kazuto Inoue
       

Về phần kiến trúc Bắc – Nam thì khoảng cách giữa các cột được mở rộng theo con đường Đông Tây từ phía Tây. Các dấu tích của con đường hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn nhưng khi chúng tôi phục dựng nó dựa trên những gì còn sót lại, chúng tôi có thể xác định rằng con đường này rộng khoảng 9m và ở trung tâm có một phần nhô lên có chiều rộng khoảng 10 shaku (3m). Toàn bộ con đường được lát bằng gạch. Và phần giữa nhô lên kết nối với khu vực công trình kiến trúc Bắc – Nam mà trong đó khoảng cách giữa các cột tương đối rộng. Dựa trên những cứ liệu này, chúng tôi phỏng đoán rằng công trình kiến trúc Bắc – Nam là một cung điện quan trọng dành cho các nghi lễ Phật giáo mà nhà vua sẽ đi trên con đường nói trên để đi vào trong kiến trúc Bắc – Nam này. Nói cách khác, phần nhô lên của con đường giống như một đường dẫn đặc biệt dành cho nhà vua.

Vấn đề vô cùng quan trọng khi xem xét qui hoạch thiết kế là xem xét tiêu chuẩn cho độ rộng của con đường Đông – Tây. Cho tới nay, người ta xác định là các kiến trúc của thời Lý đều xây dựng dựa trên đơn vị đo lường 1 shaku là 29,9cm. Tuy nhiên, con đường Đông – Tây này lại không thể được lý giải bằng qui tắc 29,9cm. Nó có độ rộng trên 9,6m, do đó dẫn tới một phép đo lường không tròn trịa với hơn 32 shaku. Con đường Đông – Tây này kết nối với khoảng rộng nằm giữa các lầu lục giác nhiều tầng và đường rãnh bên rìa ở phía Nam và Bắc của con đường theo chiều của các cột thuộc kiến trúc lầu lục giác nhiều tầng phía trước con đường. Kích thước phía trong của không gian giữa hai kiến trúc lục giác này được xác định là 32,2358 shaku (làm tròn là 32,2 shaku) hay 9,63m, được tính bằng cách trừ đi kích thước từ tâm kiến trúc đến từng cột của lầu lục giác và kết quả cos 30o là 4,5 shaku của 40 shaku – khoảng cách từ tâm của hai kiến trúc lục giác. Điều này cho thấy sự tồn tại một tính toán thiết kế rất tinh vi và kỹ thuật đo lường phức tạp trong việc xây dựng các công trình kiến trúc (BV.03).

Tôi cũng xin thảo luận thêm một vấn đề nữa về qui hoạch xây dựng các cung điện dưới thời Lý. Các đơn nguyên kiến trúc cũng như mối quan hệ giữa các kiến trúc và đường đi, như tôi vừa lý giải thì chúng được thực hiện trên những thiết kế rất rõ ràng. Ví dụ, khoảng cách giữa con đường Đông Tây và tường bao chạy Đông - Tây ở phía Bắc của công trình kiến trúc Đông Tây qui mô lớn mà tôi đã chỉ ra ở phía Nam khu A, có thể dự đoán quy mô là 83,7m, theo đo lường qui hoạch là 280 shaku. Có thể suy đoán rằng, sự phân bố các khu vực và mối quan hệ về vị trí giữa các công trình kiến trúc của cung vua được xác định dựa trên một quy hoạch chi tiết, cụ thể. Ví dụ sau đây sẽ giải thích thực tế này.

Như tôi đã thảo luận, tiêu chuẩn đo lường là một yêu cầu cần thiết để phân tích các dấu tích cung điện thì có một yếu tố quan trọng hơn cần phải xem xét là góc phương vị của kiến trúc. Dựa trên việc phân tích các chân tảng tại khu A - B xuất phát từ chiều dài của kích thước kiến trúc, chúng tôi phát hiện thấy phương vị kiến trúc, khi đặt trong hệ tọa độ địa phương của di tích Thăng Long, thì tạo một góc phương vị là W0o46’59”S đến W0o46’59”S. Tương tự, kiến trúc Đông – Tây của thời Lý tìm thấy ở phía cuối Nam của hố D4-5-6 cũng tạo ra một góc phương vị W0o52’11”S (xem BV.03).

Như tôi đã đề cập trước đây, các kiến trúc lục giác qui mô nhỏ đều được xếp theo hướng Bắc – Nam ở cả khu A và khu D4-5-6. Trong đó, nếu chúng ta nhìn vào các công trình kiến trúc nằm theo hướng Đông – Tây và tính toán khoảng cách, phương vị dựa trên giá trị tọa độ thực tế thì phương vị Đông - Tây là W0o52’54”S và khoảng cách là 209,38m. Khi chuyển đổi 209,38m sang shaku với tỉ lệ 29,9cm/shaku thì ta được kích thước là 700,27 shaku. Như vậy, chúng tôi khá chắc chắn rằng, thiết kế đã sử dụng kích thước 700 shaku. Phương vị của kiến trúc cũng tương tự, khi thực hiện so sánh các dữ liệu khác nhau thì cũng chỉ cách nhau từ 0’44” đến 5’55”. Sự chênh lệch này rất nhỏ, vì nó chỉ từ 2,1cm đến 17,2cm trên 100m. Nói cách khác, điều này chỉ ra rằng, mặc dù khoảng cách giữa chúng là hơn 200m nhưng vẫn được xây dựng theo một thiết kế tổng thể thống nhất có hệ thống.

Bằng những cách như trên, việc nghiên cứu các dấu tích kiến trúc cung điện của thời Lý tại Hoàng Thành Thăng Long, từ góc độ của thước đo xây dựng và phương vị, đã mở ra thực tế tồn tại của một trình độ thiết kế và kỹ thuật xây dựng rất cao dưới thời nhà Lý. Mặc dù tôi còn có rất nhiều quan điểm có thể chia sẻ liên quan đến các dấu tích cung điện của di tích, nhưng tôi xin phép được dừng bài trình bày của mình bằng việc nhấn mạnh lại lần nữa chỉ bằng cách sử dụng các thiết bị điều tra khảo cổ để nghiên cứu thước đo và phương vị xây dựng, để từ đó hiểu các nhóm di tích kiến trúc đã tìm thấy thông qua khai quật cùng các điều kiện khác vẫn là chưa đầy đủ.

 

BV.04: Con đường đi lớn từ khu A sang khu B, tháng 11/2008. Bản vẽ của Kazuto Inoue
 
 

Hình 4: Gạch in hình tháp Phật, thời Lý, thế kỷ 11-12.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

BV.05: Mặt bằng kiến trúc lục giác ở phía Tây khu A, tháng 10/2008. 

Bản vẽ của Kazuto Inoue

 


[1] Đó là kiến trúc 13 gian, kí hiệu là LYBKT036

GS.TS. Kazuto Inoue

(Thông báo khoa học năm 2014)