Kiến trúc thời Lý ở khu A - B, Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Những thành tựu sau 10 năm nghiên cứu

08/05/2016

Cuộc khai quật khu di tích Hoàng thành Thăng Long từng được đánh giá là có qui mô lớn nhất trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam. Kết quả cuộc khai quật này đã phát lộ một quần thể di tích lịch sử lớn về Thăng Long - Hà Nội với nhiều loại hình di tích kiến trúc chồng xếp lên nhau qua suốt 1300 năm, từ thời An Nam đô hộ phủ đến thời Lý - Trần - Lê, phản ánh lịch sử lâu dài, độc đáo của Thăng Long - Hà Nội, tiêu biểu cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đây cũng là lần đầu tiên tìm được hệ thống các loại hình di vật với số lượng lớn khoảng hàng vài triệu di vật khảo cổ gồm đồ gốm, vật liệu kiến trúc, đồ kim loại, di cốt động vật, di cốt mộ táng… phản ánh sinh động về nhiều mặt của đời sống văn hóa, xã hội Hoàng cung Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử...

             

GIỚI THIỆU CHUNG

Cuộc khai quật khu di tích Hoàng thành Thăng Long từng được đánh giá là có qui mô lớn nhất trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam. Kết quả cuộc khai quật này đã phát lộ một quần thể di tích lịch sử lớn về Thăng Long - Hà Nội với nhiều loại hình di tích kiến trúc chồng xếp lên nhau qua suốt 1300 năm, từ thời An Nam đô hộ phủ đến thời Lý - Trần - Lê, phản ánh lịch sử lâu dài, độc đáo của Thăng Long - Hà Nội, tiêu biểu cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đây cũng là lần đầu tiên tìm được hệ thống các loại hình di vật với số lượng lớn khoảng hàng vài triệu di vật khảo cổ gồm đồ gốm, vật liệu kiến trúc, đồ kim loại, di cốt động vật, di cốt mộ táng… phản ánh sinh động về nhiều mặt của đời sống văn hóa, xã hội Hoàng cung Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử.

Để đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học về toàn bộ kết quả khai quật khu di tích, công việc tiếp theo cần phải tiến hành sau khai quật là công tác chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và xây dựng hệ thống hồ sơ khoa học về di tích, di vật.

Chỉnh lý được hiểu là công việc nghiên cứu, chỉnh lý, phân loại và hệ thống hóa hồ sơ tư liệu về toàn bộ các loại hình di tích, di vật đã khai quật được thông qua việc tái điều tra, nghiên cứu so sánh, phân tích đánh giá nhằm xác định nguồn gốc, niên đại, đặc trưng kỹ thuật, tính chất, quy mô, vai trò và giá trị lịch sử, văn hoá… của từng loại hình di tích, di vật. Đây là những cơ sở khoa học quan trọng cho việc đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học về khu di tích.

Trong khảo cổ học, công tác nghiên cứu được thực hiện gồm 2 giai đoạn chủ yếu:

- Giai đoạn 1: Điều tra, khảo sát và khai quật khảo cổ học nhằm phát hiện, xử lý các hiện tượng khảo cổ học và thu thập tư liệu về di tích, di vật (gọi tắt là Khai quật).

- Giai đoạn 2: Chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học về toàn bộ các loại hình di tích, di vật đã khai quật, đồng thời tiếp tục giải quyết những vấn đề mà công tác khai quật chưa thực hiện (gọi tắt là Chỉnh lý).

Vì vậy, công tác chỉnh lý sau khai quật là công việc cấp thiết, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa to lớn, mang tính quyết định sự thành công của cuộc khai quật, góp phần làm sáng rõ những giá trị lịch sử, văn hoá nổi bật của khu di tích Hoàng thành Thăng Long trên nhiều phương diện. Đây cũng chính là cơ sở khoa học quan trọng, là nền tảng cho định hướng qui hoạch bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích.[1]

Những phát lộ của khảo cổ học về quần thể di tích kiến trúc tại các khu ABCD năm 2002-2004 tuy đã đem lại rất nhiều nhận thức mới quan trọng về kiến trúc cung điện trong Hoàng cung Thăng Long xưa, nhưng bối cảnh lúc đó chưa thể trả lời cụ thể về tính chất, qui mô, diện mạo của từng kiến trúc. Sự hoài nghi và những ý kiến tranh luận về tính chất của khu di tích kéo dài đến tận những năm 2007-2008. Thời điểm này, vẫn có ý kiến cho rằng, khu khai quật có thể không nằm trong phạm vi của Cấm thành hay Hoàng thành Thăng Long xưa.

Nói như vậy để thấy rằng, để làm rõ được giá trị của khu di tích và giải quyết được những nghi vấn trong khoa học không những cần phải đầu tư nhiều thời gian, tâm sức trong việc nghiên cứu mà còn cần có đủ kinh nghiệm và tri thức để nhận thức được tính chất, qui mô, vai trò, chức năng, niên đại của các loại hình di tích đã xuất lộ.

Từ thực tiễn các vấn đề khoa học đặt ra, sau khi tạm dừng khai quật cho đến nay, việc nghiên cứu, đánh giá giá trị khu di tích đã được đẩy mạnh, trong đó tập trung vào công tác tái điều tra nghiên cứu và khai quật tiếp tại những vị trí cần thiết nhằm từng bước làm rõ phạm vi phân bố, tính chất, qui mô, niên đại, kỹ thuật xây dựng của những di tích kiến trúc đã xuất lộ. Đồng thời, từng bước thu thập tư liệu, hệ thống hóa tư liệu chuẩn bị cho công tác phân tích, đánh giá và lập hồ sơ khoa học về di tích.

 

Hình 1: Dấu tích kiến trúc thời Lý ở phía Nam khu A. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

Việc tổ chức thực hiện công tác tái điều tra nghiên cứu và khai quật nói trên đã mang lại nhiều kết quả khoa học rất quan trọng:

- Thứ nhất, phát hiện được di tích kiến trúc bát giác thời Lý có qui mô lớn, được xây dựng rất kiên cố tại vị trí hố C04-C06 cùng hệ thống hai cấp nền sân gạch.

- Thứ hai, làm rõ được tính chất, qui mô và phạm vi phân bố của kiến trúc thời Lý ở vị trí hố C03 vốn trước đó không biết kiến trúc này như thế nào. Đồng thời làm rõ dấu tích hồ nước thời Lê Trung hưng ở khu vực này trong sự kết nối với môi trường cảnh quan chung của khu di tích.

- Thứ ba, làm rõ được tính chất kiến trúc Lý ở hố B03 và mối quan hệ của nó với những cột gỗ chôn sâu dưới lòng đất vốn từng được suy đoán là cột của kiến trúc thời Đại La hay của kiến trúc thời Trần. Xác định rõ những cột gỗ này thuộc hệ thống cột âm[2] của một công trình kiến trúc Lý, có kỹ thuật xây dựng rất độc đáo. Và, từ phát hiện này, lần đầu tiên cho biết về kiến trúc và kỹ thuật xây dựng cột âm thời Lý.

- Thứ tư, nghiên cứu và khai quật nền móng, mặt cắt đã xác định và nhận thức lại về dấu tích “con đường rải sỏi” tại khu A-B. Đây không phải là con đường mà chính là phần còn lại của móng tường bao lớn, bên trên được xây gạch rất kiên cố. Phát hiện này rất quan trọng, đem lại nhận thức mới trong việc nghiên cứu đánh giá về phạm vi phân bố của các không gian kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long xưa.

- Thứ năm, khai quật tiếp khu vực lòng sông đã xác định rõ, đây là con sông đào (nhân tạo) vào thời Lê sơ và được san lấp vào thời Lê Trung hưng, không phải là sông tự nhiên có từ thời Lý – Trần như nhận định trước đây. Từ việc khai quật này đã phát hiện thêm được nhiều di tích, di vật quan trọng, như con thuyền gỗ, bánh lái, đặc biệt là phát hiện những dấu tích móng trụ ở đáy lòng sông, minh chứng rõ về việc đào phá các công trình kiến trúc thời Lý diễn ra khi đào con sông này.

- Thứ sáu, trong quá trình tái điều tra, khai quật để làm rõ kết cấu nền móng kiến trúc thời Lý ở khu A-B đều đã tìm thấy dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc gỗ thời Đại La và thời Đinh – Tiền Lê (Thời kỳ Tiền Thăng Long)[3]. Đây được xem là những phát hiện mới quan trọng, minh chứng rõ về tính tiếp nối liên tục 1300 năm của khu di tích.

- Thứ bảy, kết quả khai quật tại các hố ở khu D cũng đã đem lại nhiều kết quả khoa học mới mà trước đó chưa thể nhận biết. Đặc biệt là phát hiện về kiến trúc có 2 hàng cột ở phạm vi hố D02-D03 đã đem lại nhận thức mới về kiến trúc hành lang có qui mô lớn. Kiến trúc này có sự kết nối với các dấu tích ở khu B và khu E (khu vực xây dựng Nhà Quốc hội), phân bố trong phạm vi rộng lớn, tạo thành một tổ hợp kiến trúc hành lang dài, hình vuông bao quanh khu C.

 

Hình 2: Hệ thống mã số ký hiệu di tích trong quá trình chụp ảnh làm hồ sơ tư liệu, năm 2011.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

Một số dẫn dụ về những phát hiện quan trọng nêu trên cho thấy, việc tái điều tra, khai quật tại những vị trí cần thiết đã mang lại hiệu quả rất lớn cho công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị về khu di tích, cung cấp thêm nhiều tư liệu mới và góp phần làm rõ những nhận định trước đây vốn còn mơ hồ và chưa có đủ cơ sở khoa học.

Mặt khác như trên đã nêu, Hoàng thành Thăng Long là khu di tích có qui mô rộng lớn, có nhiều tầng văn hóa đan xen, chồng xếp lên nhau rất phức tạp. Trong khi đó, ngành khảo cổ học Việt Nam lúc đó tuy đã có bề dày vài chục năm, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực khảo cổ học đô thị, vì thế việc xử lý khai quật và nghiên cứu, đánh giá các loại hình di tích kiến trúc trong những năm đầu gặp rất nhiều khó khăn.

Trước tình hình trên, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam khi đó (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã cho phép Ban Chủ nhiệm Dự án mời các chuyên gia Nhật Bản sang hợp tác nghiên cứu tại khu di tích. Và, từ cuối năm 2006, một chương trình hợp tác nghiên cứu với các chuyên gia khảo cổ học và kiến trúc Nhật Bản tại khu di tích được xác lập. Từ đây, công tác nghiên cứu về di tích bắt đầu có những chuyển biến quan trọng.

Các chuyên gia khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản đã cùng triển khai những chương trình tái điều tra nghiên cứu, khai quật, đánh giá lại tổng thể khu di tích trên các phương diện, từ tư liệu khai quật đến hiện trạng các di tích đã xuất lộ, xem xét tổng thể và đặt kế hoạch nghiên cứu lâu dài. Các phương pháp, kinh nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp khai quật và tái điều tra tổng thể di tích kiến trúc được trao đổi. Nhờ đó, công tác nghiên cứu, tái điều tra khai quật tại khu di tích đã có những bước tiến rất quan trọng.

Đặc biệt, từ cuối năm 2006, sau khi xem xét tổng thể di tích và các bản vẽ di tích thực hiện trong những năm 2002-2004, các chuyên gia Nhật Bản đã đề xuất việc xây dựng lưới toạ độ quốc gia vào khu di tích để đo vẽ lại toàn bộ khu di tích, vì các bản vẽ trước đó không đạt yêu cầu. Việc xây dựng lưới tọa độ Hoàng thành Thăng Long tại khu di tích được tiến hành ngay từ cuối năm đó và hoàn thành vào đầu năm 2008. Trong thời gian này, Ban Chủ nhiệm Dự án vừa tổ chức đưa lưới toạ độ và vừa đo vẽ lại toàn bộ các loại hình di tích kiến trúc đã xuất lộ theo tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả của công việc này đã đem lại những hiệu quả rất cao cho công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị về di tích và đáp ứng tốt cho công tác lập hồ sơ khoa học của khu di tích.[4]

Sau khi có lưới tọa độ, đo vẽ lại di tích và ghép nối thành công tổng thể bản vẽ mặt bằng khu di tích theo qui chuẩn quốc tế, công tác nghiên cứu xác định mặt bằng di tích kiến trúc đã có những bước tiến vượt bậc. Cụ thể là đã phân định được cơ bản mặt bằng của các kiến trúc thời Lý ở khu A-B và D4-D6, đã xác định được hệ thống sông, hồ, dòng chảy, hệ thống giếng nước và tường bao.

Trong suốt những năm 2007-2008, công tác tái điều tra nghiên cứu di tích diễn ra khá nhộn nhịp ở khu A-B và một phần ở D4-D6. Tại khu vực này, các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản chủ yếu tập trung nghiên cứu nhận diện mặt bằng các di tích kiến trúc thời Lý. Và, mặc dù đã nhận diện và làm rõ được một số mặt bằng, nhưng do tính phức tạp và chưa có đủ bằng chứng nên các di tích thời Lý ở khu vực này vẫn còn có rất nhiều vấn đề khoa học đặt ra. Mặt khác, cũng do tập trung nghiên cứu mặt bằng nên việc nghiên cứu về kỹ thuật xây dựng, về qui hoạch cảnh quan, đặc biệt là nghiên cứu so sánh để xác định tính chất, chức năng, mối quan hệ giữa các công trình trong tổng thể và đánh giá từng loại hình kiến trúc trong mỗi giai đoạn và trong tổng thể lịch sử chung của từng thời kỳ... chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu.

Một điều đáng lưu ý nữa là, trong quá trình thực hiện công tác tái điều tra, nghiên cứu di tích ở khu A-B và một phần ở D4-D6 liên tiếp bị gián đoạn.[5] Thực tế công việc này chỉ thực sự được bắt đầu từ năm 2006 và đẩy mạnh

 
  BV.01: Tổng thể mặt bằng di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B-C. Kết quả nghiên cứu năm 2011 - 2012 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành.

từ năm 2008 sau khi có lưới toạ độ quốc gia và đo vẽ xong tổng thể mặt bằng khu di tích. Tuy nhiên, công tác nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam trong giai đoạn này mới tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B.

Sau một thời gian gián đoạn khoảng gần 3 năm, từ đầu năm 2011, công tác tái điều tra, khai quật và nghiên cứu, đánh giá giá trị, lập hồ sơ khoa học di tích ở khu A-B tiếp tục được Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành triển khai thực hiện. Trong năm này, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành đã hoàn thành việc nghiên cứu đưa hệ thống mã số kí hiệu vào từng di tích ở khu A-B, trên cơ sở đó tiếp tục tái điều tra khai quật, tư liệu hóa di tích (chụp ảnh, quay phim), mã số lại các bản vẽ di tích và tổ chức xây dựng Phiếu di tích dựa trên kết quả nghiên cứu mới. Và, từ khi đưa hệ thống mã số kí hiệu vào di tích, công tác lập hồ sơ khoa học đã mang tính qui chuẩn hơn với những thông tin tin cậy hơn.

Bài viết này sẽ giới thiệu những kết quả nghiên cứu mới về di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B dựa trên thành quả của công tác tái điều tra, khai quật và nghiên cứu, đánh giá giá trị sau 10 năm kể từ khi dừng khai quật (2004-2013), trong đó, các di tích sẽ được mô tả dựa trên hệ thống mã số kí hiệu được xác lập năm 2011.[6]

I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Khu A-B nằm ở phía Tây điện Kính Thiên, giáp đường Hoàng Diệu, là 2 trong 4 khu của khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu, được gọi theo kí hiệu của khảo cổ học năm 2002. Phạm vi xuất lộ di dích ở khu A-B có tổng diện tích: 14.291m2, trong đó diện tích khu A: 5.505m2, diện tích khu B: 6.089m2. Giữa hai khu vực này là dấu tích dòng sông cổ được đào vào thời Lê sơ.

Cuộc khai quật khảo cổ học ở hai khu vực này diễn ra từ cuối năm 2002 đến tháng 3 năm 2004 đã tiến hành 45 hố khai quật, trong đó khu A có 25 hố khai quật (kí hiệu từ A01 – A25), khu B có 20 hố khai quật (kí hiệu từ B01 – B20). Kết quả khai quật khảo cổ học cho thấy, A-B là 2 khu vực phát hiện được nhiều nhất, phong phú nhất và nguyên vẹn nhất dấu tích của các loại hình di tích kiến trúc, hệ thống cống nước, giếng nước, tường bao và hàng chục ngàn di vật bao gồm vật liệu kiến trúc, đồ gốm sứ, đồ sành, đồ đá, đồ kim loại thuộc các thời kỳ từ thời Đại La, thời Đinh – Tiền Lê đến thời Lý, Trần, Lê nằm chồng xếp, đan xen nhau. Trong đó, nhiều nhất và còn khá nguyên vẹn nhất là quần thể di tích kiến trúc thời Lý.

1. Di tích thời Lý ở khu A

Di tích thời Lý còn lại khá rõ ràng trên mặt đất trong lòng khu A, tuy nhiên do tính chất phức tạp và do nhiều dấu tích chưa khai quật xuất lộ nên việc nghiên cứu, đánh giá còn gặp nhiều khó khăn.

1.1. Di tích kiến trúc

Dấu tích nền móng kiến trúc Lý đã xuất lộ ở khu A hiện nhận biết được 06 đơn nguyên kiến trúc, kí hiệu LYAKT004, LYAKT006, LYAKT010, LYAKT011, LYAKT013, LYAKT017 và một số tổ hợp gồm 2 công trình kiến trúc quan trọng ở phía Nam, kí hiệu LYAKT019, LYAKT021 (BV.01).

 

Hình 3-4: Dấu tích kiến trúc thời Lý ở phía Bắc khu A - LYAKT004. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

a) Kiến trúc LYAKT004

Đây là kiến trúc cung điện lớn, thuộc loại nhà dài, nằm ở phía Bắc khu A (Hình 3-4, BV.02). Kiến trúc nằm dọc theo chiều Bắc – Nam, đã xuất lộ 39 trụ móng sỏi hình vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30m được xếp thành 11 hàng. Hai bên phía Đông và Tây đều tìm thấy dấu tích móng trụ của cột hiên có quy mô rất nhỏ, được gia cố bằng ngói. Như vậy, kiến trúc này có bộ vì gồm 6 cột hay nói cách khác là mỗi hàng có 6 cột gỗ. Khoảng cách giữa các cột quân và cột cái là 2,7m – 3,0m, khoảng cách giữa các cột cái (lòng nhà) là 6,0m, chiều rộng của bước gian (tức khoảng cách giữa hai vì) rất lớn 5,7m, gian chính giữa rộng 6,0m. Mặc dù, một phần đầu hồi phía Bắc của kiến trúc chưa xuất lộ và hai trụ móng sỏi ở đầu hồi phía Tây Nam cũng bị phá bởi hồ nước thời Trần, nhưng dựa vào các dấu tích còn lại và gian chính giữa (có kích thước lớn hơn các gian hai bên) có thể đoán định kiến trúc này có khoảng 13

     
      BV.02: Mặt bằng kiến trúc thời Lý ở phía Bắc khu A gồm kiến trúc LYAKT004, kiến trúc lục giác LYAKT006 ở phía Tây, tường bao LYATB002 ở phía Đông và đường đi lớn LYBDDG027 ở giữa.
       

gian (hiện mới lộ 10 gian), nghĩa là tòa nhà này có 11 gian 2 chái, mặt quay về phía Tây và có diện tích lớn khoảng hơn 1200m2 (dài khoảng hơn 70m, rộng gần 18m).

Ba mặt phía Tây, phía Đông và phía Nam của kiến trúc có hệ thống đường cống thoát nước được xây dựng rất qui chuẩn. Trong đó, rãnh nước LYARN003 (phía Đông) được xây bằng gạch chữ nhật, rãnh nước LYARN005 (phía Tây), LYARN008 (phía Nam) được xây bằng loại gạch chuyên dụng hình thang rất độc đáo. Đáng lưu ý là, bên phía Đông của kiến trúc có dấu tích móng của tường bao LYATB002 được xây dựng rất kiên cố. Hệ thống cống nước LYARN003 ở phía Đông nói đến đây được xây dựng cạnh chân tường bao và có 4 cửa cống có nắp đậy vững chắc bằng đá khối nằm dưới chân tường và đổ nước sang khu vực phía Đông.

Về tường bao LYATB002 chúng tôi sẽ nêu cụ thể ở phần tiếp theo, nhưng điều cần lưu ý ở đây là, tường bao này có dấu vết cột gỗ của một cổng đi thẳng vào gian chính giữa của kiến trúc LYAKT004 (Hình 5-6). Và, trong phần hiên của kiến trúc này, bên phía Đông và phía Tây, đều có dấu tích của hàng gạch được chôn nằm nghiêng thẳng với hàng gạch bó nền của con đường lớn ở bên khu B (phía Tây của kiến trúc). Con đường này có kí hiệu LYBĐG027. Năm 2011, chúng tôi đã khai quật làm rõ cấu trúc tường bao và khu vực cổng phía Đông. Với những dấu tích còn lại và kết quả nghiên cứu năm 2011 cho thấy, kiến trúc LYAKT004 và hệ thống cống nước LYARN003, LYARN005, LYARN008, đường gạch LYAĐG001, tường bao LYATB002 và con đường đi LYBĐG027 có mối quan hệ kết nối với nhau và được qui hoạch xây dựng trong cùng một thời kỳ. Dựa vào dấu tích cổng và hàng gạch chôn nằm nghiêng ở 2 bên hiên, chúng tôi cho rằng, gian chính giữa của kiến trúc LYAKT004 có con đường đi ngang qua lòng nhà và kết nối với con đường LYBĐG027 ở khu B (xem BV.01). Đây là phát hiện rất thú vị, cho thấy sự kết nối mang tính liên hoàn của các công trình kiến trúc thời Lý ở đây, vừa có không gian kín và vừa có không gian mở, đồng thời gợi ý về việc nghiên cứu chức năng của công trình kiến trúc LYAKT004 trong tương lai.

 

Hình 5-6: Dấu tích tường bao LYATB002, cống nước LYARN003 bên phía Đông kiến trúc LYAKT004 và móng gỗ lớn của cổng ra vào kiến trúc LYAKT004. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

 

Hình 7-8: Chi tiết một móng trụ của kiến trúc lầu lục giác LYAKT006 ở phía Tây khu A. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

b) Kiến trúc lầu lục giác LYAKT006

Phát hiện quan trọng ở phía Tây kiến trúc LYAKT004 là hệ thống gồm 11 cụm móng trụ sỏi tròn, nằm cách nhau từ 8,0m đến 12m, chạy dọc theo hướng Bắc – Nam dài hơn 82m (BV.02; Hình 7-8). Những cụm móng trụ sỏi này nằm sát rãnh nước LYARN005, song song với kiến trúc LYAKT004. Mỗi cụm móng trụ được tạo bởi 6 trụ sỏi tròn xếp lại thành hình bông hoa 6 cánh, ở giữa là một trụ hình vuông, có đường kính chung 3,40m. Đường kính của từng trụ sỏi tròn nhỏ vây xung quanh có kích thước trung bình từ 1,0m đến 1,10m. Các trụ sỏi này được làm kiên cố giống như kỹ thuật trụ sỏi hình vuông, tức là đào hố sâu sau đó đổ sỏi hoặc gạch ngói vỡ vụn và đầm chặt với đất sét. Dựa vào dấu vết còn lại của kiến trúc LYAKT006-1 và LYAKT006-2 cho thấy, cạnh ngoài các móng trụ được bao bọc bởi một vòng tròn xây bằng gạch nghiêng, xung quanh bên ngoài là một sân nhỏ hình chữ nhật được lát bằng loại gạch vuông. Phát hiện này cho thấy rằng, các kiến trúc ở đây được xây dựng rất công phu, theo một mô thức chung và chắc chắn là loại kiến trúc rất đặc biệt và rất độc đáo.

Kiểu dáng và chức năng của kiến trúc độc đáo này hiện vẫn chưa nhận biết chính xác. Các chuyên gia Nhật Bản cho đây là kiến trúc kiểu cột cờ giống như Nara hay là kiến trúc tháp nhiều tầng liên quan đến tôn giáo. Dựa vào bình diện mặt bằng, kết hợp với sự nghiên cứu so sánh với kiến trúc cổ Trung Quốc, chúng tôi cho đây là loại kiến trúc lầu gác được xây dựng nhằm phục vụ cho nhu cầu thưởng ngoạn trong hoàng cung đương thời. Trong Việt sử lược có ghi chép về loại hình kiến trúc này và gọi là trà đình (lầu để thưởng trà) (Bùi Minh Trí, Tống Trung Tín, 2006).

Dựa vào cách phân bố và qua nghiên cứu về qui hoạch không gian, nếu xác định trục trung tâm là con đường LYBĐG027 và nếu các kiến trúc này được qui hoạch đăng đối, chúng tôi đoán định, dãy kiến trúc lục giác ở đây có khả năng có tới 14 kiến trúc. Nếu suy đoán này là chính xác, chúng ta sẽ thấy qui hoạch kiến trúc thời Lý ở khu A là rất độc đáo.

Đáng lưu ý là tại khu D, khu vực hố D06, cách dãy kiến trúc LYAKT006 khoảng 210m theo chiều Đông Tây, cũng đã tìm thấy dấu tích một dãy gồm 3 kiến trúc lục giác (LYDKT063) nằm song song và cùng phương vị với dãy kiến trúc lục giác ở khu A. Theo nghiên cứu của chúng tôi, dãy kiến trúc này khả năng cũng có số lượng 14 kiến trúc như ở khu A và đương nhiên nó được xây dựng cùng thời kỳ với kiến trúc lục giác ở khu A. Sự đăng đối hoàn hảo của hai dãy kiến trúc lục giác LYAKT006 và LYDKT063 đang gợi ý đến một không gian rất quan trọng của Cấm thành Thăng Long xưa nằm ở giữa khu A-B và khu D, tức là khu C. Theo GS. Ueno, chuyên gia kiến trúc Nhật Bản, có thể có một trục trung tâm cho các công trình kiến trúc ở khu A-D nằm ở khu C (Kunikazu Ueno, 2013).

c) Những kiến trúc có qui mô nhỏ và độc đáo ở phía Nam khu A

Đối diện với kiến trúc lục giác nằm ở cuối phía Nam là kiến trúc LYAKT013. Kiến trúc này nằm theo chiều ngang Đông Tây và song song với tường bao LYATB014 ở phía Bắc. Do mới xuất lộ 03 gian 01 chái, với 11 móng trụ sỏi (cột dương) và 7 móng cột âm nên chưa thể biết chính xác số gian và kích thước, nhưng đây là kiến trúc rất độc đáo. Kiến trúc có bộ vì 6 cột, trong đó có 4 cột dương lớn ở trong lòng nhà và 2 cột âm ở hàng hiên ở phía Bắc và phía Nam. Các cột âm của hàng hiên được chôn đứng xung quanh nhà, trong đó, cột ở đầu phía Tây được chôn chéo góc so với cột cái, các cột khác ở 2 bên Bắc - Nam được đặt thẳng hàng với cột bên trong lòng nhà. Phần lớn các cột âm đều đã bị phá, chỉ còn lại móng hoặc chân tảng đá, duy nhất ở phía Nam còn một cột gỗ đứng nguyên ở vị trí ban đầu (Hình 27). Tư liệu này cho ta biết chính xác về kỹ thuật xây dựng cột âm của công trình. Dựa vào đặc điểm kỹ thuật xây dựng, chúng tôi gọi đây là loại kiến trúc kết hợp 2 truyền thống kỹ thuật cột dương và cột âm.[7] Kiến trúc này có qui mô cũng khá lớn, lòng nhà theo chiều Bắc - Nam rộng khoảng 19,7m, có bước cột thứ tự là: 1,5m - 3,6m - 7,5m - 3,6m - 1,5m, hiên mỗi bên rộng khoảng 1,0m.

Nằm giữa kiến trúc LYAKT013 và LYAKT004 còn có 2 kiến trúc nhỏ nằm song song với nhau theo chiều Đông Tây và kỹ thuật xây dựng của nó cũng rất độc đáo. Đó là kiến trúc LYAKT010 và LYAKT011 (Hình 9-10).

 

Hình 9-10: Dấu tích mặt bằng kiến trúc LYAKT011 ở phía Đông Nam khu A. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Kiến trúc LYAKT010 có diện tích khoảng 131,2m2 (dài 16,40m x rộng 8,0m). Đây là kiến trúc có số gian chẵn: 2 gian 2 chái với hệ thống gồm 10 móng trụ sỏi, tương ứng 10 cột gỗ. Kiến trúc này đã bị hồ nước thời Trần đào phá mất gần một nửa ở đầu phía Tây, mặt nền hiện còn 5 móng trụ sỏi. Đáng lưu ý là, tuy có qui mô nhỏ nhưng bước gian vẫn rất qui chuẩn và rộng như các kiến trúc lớn khác: lòng rộng khoảng 6,0m và khoảng cách 2 gian chính đều nhau 5,10m, gian chái 2,10m.

Kiến trúc LYAKT011 có diện tích rất nhỏ khoảng 64m2 (dài 10,40m x rộng 6,20m). Đây là kiến trúc đặc biệt, cũng có gian chẵn 2 gian 2 chái như kiến trúc LYAKT010, nhưng móng trụ sỏi ở đầu 2 gian chái được xây dựng rất kiên cố và là loại móng trụ kép, tức là loại móng trụ có chiều dài bằng 2 móng trụ thông thường và bên trên đặt 2 chân tảng đá kê 2 cột gỗ (hay còn gọi là cột đôi). Gian chái phía Bắc của kiến trúc còn nguyên 2 chân tảng đá kê cột cho thấy rõ kỹ thuật sử dụng móng trụ kép thời Lý. Một điểm lưu ý nữa là, giữa lòng kiến trúc có một đường cống thoát nước ngầm LYARN012, được xây xếp bằng gạch rất kiên cố, bên trên đậy nắp bằng đá phiến có cao độ bằng nền của công trình.

d) Tổ hợp kiến trúc LYAKT019 và LYAKT021

Phát hiện có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa khoa học rất lớn trong việc đánh giá về quy mô cũng như trình độ xây dựng rất cao của vương triều Lý là tổ hợp hai công trình kiến trúc ở phía Nam khu A. Đó là dấu tích nền móng của kiến trúc LYAKT019 và LYAKT021. Tổ hợp hai công trình kiến trúc này nằm song song theo chiều Đông – Tây, cùng phương vị với tường bao lớn LYATB014 ở phía Bắc (được mô tả ở phần sau) và cách tường bao này khoảng 7,98m. Gọi là tổ hợp kiến trúc vì hai kiến trúc này được kết nối liên hoàn với nhau bằng một sân lát gạch và hệ ống muống nơi có thềm bậc đá đi qua (BV.03).

Kiến trúc hành lang LYAKT019

Kiến trúc nằm ở phía Bắc, chạy dài từ khu A sang khu B và tiếp tục kéo sang khu vực phía Đông. Mặt bằng của kiến trúc mới xuất lộ 14 gian (trong đó nhận biết rõ 7 gian) với 10 hàng chân cột, gồm 8 chân tảng đá còn nguyên và 17 móng trụ gia cố bằng sỏi hoặc ngói và sỏi. Những bằng chứng này cho thấy, đây là loại kiến trúc hành lang có bộ khung chịu lực bằng gỗ với hệ vì có 3 cột được dựng lên trên các chân tảng đá. Các chân tảng này được làm bằng đá sa thạch màu xám, có khối hình vuông, bề mặt chạm nổi cánh sen mềm mại, mang phong cách nghệ thuật đặc trưng thời Lý, giống như chân tảng ở di tích chùa Long Đọi (Hà Nam) hay chùa Dạm (Bắc Ninh)[8]. Dấu vết vòng tròn khắc trên bề mặt chân tảng cho biết, cột gỗ của kiến trúc có đường kính tương đối lớn, khoảng từ 43cm – 48cm. Đáng lưu ý, hàng cột của lòng nhà bố cục không cân đối mà bố cục lệch. Khoảng cách giữa cột hiên phía Nam với cột ở giữa là 5,0m, khoảng cách giữa cột hiên phía Bắc và cột giữa là 2,50m, như vậy lòng nhà rộng 7,50m. Khoảng cách giữa các cột là 5,75m – 5,77m, lớn như kiến trúc nhiều gian LYAKT004 ở phía Bắc khu A.

     
      BV.03: Mặt bằng kiến trúc thời Lý ở phía Nam khu A: tường bao LYTB014, cống nước LYARN015 và tổ hợp kiến trúc hành lang LYAKT019 - kiến trúc lớn LYAKT021 và mặt cắt ngang Bắc - Nam của quần thể kiến trúc.
       

Nền của kiến trúc rộng khoảng 9,76m, hai bên có hiên nhỏ được bó gạch. Thềm hiên phía Nam (khu vực phía Đông, phạm vi hố A20) còn khá nguyên vẹn, bề mặt rộng 87cm – 88cm, cao hơn so với mặt nền sân gạch là 36cm – 37cm, được xếp khít bằng 7-8 hàng gạch hình chữ nhật, có kích thước dày mỏng khác nhau, nhưng chủ yếu là loại gạch có kích thước 39x20x5cm. Thềm hiên phía Bắc đã bị phá mất chỉ còn lại dấu vết móng và gạch bó dưới chân thềm. Dựa vào dấu vết này, thềm hiên phía Bắc có chiều rộng khoảng 1,40m, lớn hơn thềm hiên phía Nam (Hình 11-12; BV.03).

Hai bên phía Bắc và phía Nam của kiến trúc hành lang có dấu tích 2 sân gạch, được xây dựng ở hai cao độ khác nhau và đều được lát bằng loại gạch vuông. Sân phía Bắc LYASG018 nằm cao hơn sân phía Nam LYASG020, có chiều rộng khoảng 4,18m. Giới hạn phía Bắc sân gạch này là một đường cống thoát nước lớn nằm cạnh chân tường bao LYATB014, chạy dài từ Đông sang Tây, từ khu B sang khu A, có chiều dài hơn 80m. Đó là đường cống nước LYARN015. Sân phía Nam (LYASG020) nằm giữa kiến trúc LYAKT019 và LYAKT21, có chiều rộng 4,92m, giữa lòng tạo võng nhằm để thoát nước.

Đáng chú ý, trong lòng kiến trúc LYAKT019 tìm thấy một nhóm di vật ngói lợp mái cung điện rất đặc sắc, với 12 hiện vật còn khá nguyên vẹn, trong đó gồm 02 tượng đầu chim phượng và 01 cổ để gắn vào đầu tượng chim phượng, 04 ngói úp nóc trang trí chim phượng, 01 ngói úp nóc trang trí tượng uyên ương, 02 ngói úp nóc trang trí rồng và 02 viên ngói úp nóc lớn. Phát hiện này gợi ý đến khả năng đây chính là những vật liệu trang trí trên mái kiến trúc (Hình 19).

Kiến trúc cung điện lớn LYAKT021

 Kiến trúc nằm ở phía Nam và song song với kiến trúc hành lang LYAKT019 ở phía Bắc. Hai kiến trúc này kết nối với nhau bằng sân gạch LYASG020 và hệ thống ống muống nằm ở vị trí gian chính giữa của LYAKT021 (BV.03; Hình 13).

Kiến trúc mới xuất lộ phần thềm hiên phía Nam và một phần của nền nhà với 3 chân tảng đá còn nguyên ở vị trí ban đầu và 18 móng trụ sỏi. Các chân tảng đá ở thềm hiên cũng có hình dáng, chất liệu và kích thước giống như chân tảng đã mô tả ở kiến trúc hành lang LYAKT019 nêu trên. Thềm hiên của kiến trúc cũng được bó bằng gạch hình chữ nhật, có chiều rộng 1,16m, cao so với mặt nền sân gạch là 37cm, được xếp khít bằng 8 hàng gạch tương tự như thềm hiên của kiến trúc hành lang. Một số viên gạch vuông sót lại ở phần nền nhà cho thấy trước đây lòng kiến trúc cũng được lát gạch vuông như loại gạch lát sân (Hình 14).

Điều đặc biệt lưu ý là, trụ móng sỏi của các chân tảng kê cột của kiến trúc này có kích thước rất lớn, trung bình 1,90m x 1,90m, có móng trụ lớn hơn 2,0m, cho thấy các chân tảng đá ở đây có kích thước rất lớn và tương ứng với nó là hệ thống cột gỗ cũng rất to lớn. Mặc dù chưa xuất lộ hết, phần nền móng của kiến trúc còn đang tiếp tục mở rộng ra 3 bên (phía Đông, phía Tây và phía Nam) nên chưa thể biết chính xác số gian và diện tích cụ thể của kiến trúc như thế nào. Nhưng dựa vào qui luật phân bố các móng trụ, căn cứ vào gian trung tâm đã được xác định cho thấy, đây là công trình kiến trúc gỗ đồ sộ, có qui mô rất to lớn, có thể có ít nhất khoảng 11 gian và mỗi vì có tới 8 cột gỗ lớn. Bước gian của công trình lớn hơn nhiều so với kiến trúc trong khu vực, điều này thấy rõ qua khoảng cách cột từ Bắc sang Nam: 2,50m - 6,0m - 6,30m - 6,90m - 6,0m - 6,0m và 2,50m.

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, kiến trúc này có diện tích rất lớn khoảng trên 2.280m2, rộng 38,0m và dài trên 60,0m. Nếu tính toán này là chính xác và nếu so sánh về qui mô, diện tích với  kiến trúc chùa Todai ở Nara, là một trong những ngôi chùa lâu đời và cổ kính nhất Nhật Bản, được xây dựng từ năm 743, chúng ta có thể thấy kiến trúc LYAKT021 là một công trình kiến trúc rất hoành tráng và đặc sắc. Bởi như ta biết, Todai là ngôi chùa bằng gỗ đã được xếp vào loại di sản kiến trúc gỗ lớn nhất thế giới. Mặt bằng ngôi chùa này có diện tích 2.850m2, rộng 50,0m, dài 57,0m (Hình 22). Đồng thời, với qui mô và hệ thống trụ móng to lớn như đã phân tích ở trên, chúng tôi nghĩ rằng, kiến trúc LYAKT021 chắc chắn sẽ thuộc loại kiến trúc có nhiều tầng.[9]

Và như trên đã nêu, kiến trúc LYAKT021 và LYAKT019 được kết nối nhau bằng hệ ống muống. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi năm 2010-2011 cho thấy rằng, hệ ống muống này không đơn giản là sự liên kết mái giữa hai công trình mà đây chính là khu vực được xây dựng một thềm bậc đá rất kiên cố làm lối đi liên thông giữa hai công trình, bên trên có mái che, phía dưới có bộ khung dựng dọc hai bên thềm bậc như kiểu hành lang (Hình 17-18). Và, những mảnh vỡ của thân rồng thềm bậc đá chạm khắc khá tinh xảo tìm được tại khu vực sân LYASG020, gần móng của thềm bậc được gia cố bằng sỏi, gợi ý đây có thể là phần lan can của thềm bậc đá ở đây. Nếu đúng như vậy, thềm bậc đá của công trình này từng được xây dựng rất công phu và đẹp đẽ (Hình 15-16).

 

Hình 11-12: Dấu tích kiến trúc hành lang LYAKT019 ở phía Nam khu A, chi tiết bó nền, chân tảng và sân gạch LYASG020 bên phía Nam. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   
Hình 13-14: Dấu tích sân gạch LYASG020 kết nối giữa kiến trúc hành lang LYAKT019 ở phía Bắc và kiến trúc lớn LYAKT021 ở phía Nam và chi tiết chân tảng cùng gạch lát nền còn sót lại của kiến trúc LYAKT021.
   

Hình 15-16: Dấu tích ống muống kết nối giữa kiến trúc hành lang LYAKT019 và kiến trúc lớn LYAKT021.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   

Hình 17: Nhiều phù điêu đầu chim phượng lớn cùng các loại ngói úp nóc trang trí chim phượng và rồng được tìm thấy trong lòng kiến trúc hành lang LYAKT019. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 
   
Hình 18: Kiến trúc chùa Todai ở Nara (Nhật Bản) được xếp vào loại di sản kiến trúc gỗ lớn nhất thế giới. Mặt bằng ngôi chùa có diện tích 2.850m2, cao 48m. (Ảnh: Bùi Minh Trí)   Hình 19-20: Dấu tích móng tường bao lớn LYATB014 nằm ở phía Nam, chạy dài theo chiều ngang Đông - Tây, từ khu A sang khu B. Đây là tường bao phân gianh không gian trong Hoàng cung Thăng Long. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
         

1.2. Di tích tường bao

Cùng với những dấu tích kiến trúc, khu A còn tìm thấy 2 dấu tích móng tường bao rất quan trọng. Đó là tường bao LYATB002 ở phía Đông và tường bao LYATB014 ở phía Nam.

Tường bao LYATB002 nằm song song với kiến trúc LYAKT004 đã nói ở trên. Móng tường bao này được xây dựng rất kiên cố bằng sỏi và sành, có chiều rộng 1,0m, bên trên xếp gạch. Hai bên dưới chân tường được lát gạch thoải dốc ra ngoài nhằm không để nước chảy vào chân tường và giữ độ vững chắc cho tường. Trước đây, khi chưa phát hiện ra móng tường, các nhà chuyên môn đã lầm tưởng phần lát gạch này là con đường đi. Kết quả nghiên cứu năm 2011 không những đã làm rõ được cấu trúc, kỹ thuật xây dựng móng tường mà còn phát hiện và lý giải về một cổng gỗ có chiều rộng 2,7m được xây dựng ngay khi làm tường bao để mở lối đi vào kiến trúc LYAKT004 từ phía Đông. Đồng thời, tỷ lệ giữa chiều rộng của bề mặt móng tường và chiều rộng của chân tường gạch cũng như chiều cao của tường đã được chúng tôi đầu tư nghiên cứu, giải mã dựa trên những dấu tích còn lại. Tường bao này tiếp tục kéo dài về phía Bắc, đầu phía Nam được xây gấp vuông hình thước thợ và tiếp tục kéo dài sang phía Đông. Bằng chứng này cho thấy, tường bao LYATB002 có chức năng chính là phân không gian, bao quanh bảo vệ các công trình kiến trúc ở bên phía Đông (xem BV.01).

 

Hình 21-22: Mảnh vỡ thân rồng trên lan can thềm bậc đá thời Lý, tìm thấy ở khu vực kiến trúc phía Nam khu A.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   

Dấu tích móng tường bao thứ hai ở phía Nam, LYATB014, nằm theo chiều ngang Đông – Tây. Đây là tường bao quan trọng nhất. Móng tường bao này được gia cố chủ yếu bằng sỏi, chạy dài từ khu A sang khu B khoảng 84,50m, rộng khoảng 2,0m và bị dòng sông thời Lê sơ đào phá ở đoạn nằm giữa hai khu (Hình 20-21).

Như phần đầu đã nêu, trước đây tường bao LYATB014 từng được giới thiệu là dấu tích "con đường đi bằng sỏi", nhưng kết quả tái điều tra nghiên cứu năm 2008 đã khẳng định đây là móng của một tường bao có qui mô lớn. Tuy nhiên lúc đó, tính chất, chức năng của tường bao này là gì thì vẫn chưa đủ cơ sở để giải mã.

Cuộc khai quật khu vực xây dựng Nhà Quốc hội năm 2008-2009, chúng tôi đã tiếp tục tìm thấy dấu tích móng tường bao lớn (kí hiệu LYETB001), có qui mô và kỹ thuật xây dựng tương tự như tường bao LYATB014 nói đến ở đây. Điều thú vị là, tường bao LYETB001 và tường bao LYATB014 đều nằm trên cùng một trục tọa độ và đều dừng lại ở vị trí hành lang LYBKT047 và LYDKT064 liên kết với kiến trúc cổng lớn thời Lý ở khu C (LYCKT048).

Từ những bằng chứng nêu trên, tôi đã đưa ra nhận xét rằng, tường bao LYATB014 của khu A-B là bức tường rất quan trọng và chức năng chính của nó là phân định không gian trong Hoàng cung, giữa khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam của Cấm thành Thăng Long thời Lý [10].

Ngoài những kiến trúc nói trên, tại khu A còn có 2 dấu tích kiến trúc rất đáng chú ý. Đó là kiến trúc LYAKT007, LYAKT017. Đây là những công trình kiến trúc có niên đại sớm nhất ở đây, có thể được nhà Lý cho xây dựng ngay những năm đầu khi dời đô về Thăng Long.

Kiến trúc LYAKT007 nằm giữa khu A-B, có qui mô rất lớn, nằm ngang theo chiều Đông Tây, kéo dài từ khu A sang khu B, có chiều dài 58,2m, rộng 20,3m, diện tích trên 1.181m2. Kiến trúc này nằm dưới lớp nền kiến trúc LYAKT004, chỉ còn lại hệ thống móng trụ ở 2 đầu phía Đông và phía Tây, phần còn lại đã bị đào phá bởi hồ nước thời Trần ở khu A và con sông đào thời Lê sơ nằm giữa khu A-B. Dấu tích còn lại cho thấy, mỗi vì của kiến trúc có 6 cột gỗ và khoảng cách hai cột cái trong lòng nhà rất lớn 7,5m. Đây là kiến trúc có hệ thống móng trụ được gia cố đầm chặt hoàn toàn bằng ngói vỡ và phương vị của nó nằm lệch so với phương vị của các kiến trúc thời Lý đã giới thiệu ở trên.

Kiến trúc LYAKT017 nằm ở đầu phía Nam khu A, được tìm thấy dưới lớp nền của kiến trúc hành lang LYAKT019 và nằm lệch phương vị với kiến trúc hành lang này. Kiến trúc LYAKT017 mới xuất lộ 3 gian và mỗi vì có 3 cột gỗ, giống như kiến trúc hành lang nói đến ở đây. Trong số 3 gian đã xuất lộ có 1 gian có khoảng cách bước gian rất rộng 8,2m, hai gian ở phía Đông có khoảng cách là 4,8m và 3,6m (theo chiều Đông Tây). Gian lớn có thể là gian chính giữa và nếu đúng như vậy, kiến trúc này khả năng có 3 gian, 2 chái và có diện tích khoảng 305m2 (dài 25,0m x 12,2m). Đáng lưu ý, hệ thống móng trụ của kiến trúc được gia cố đơn giản chủ yếu bằng mảnh ngói đỏ và đồ gốm của thời Đại La và Đinh - Tiền Lê (thế kỷ 8-10). Đây cũng chính là một trong những cơ sở của chúng tôi khi xác định khung niên đại xây dựng kiến trúc LYAKT017 trong khoảng đầu thế kỷ 11.

1.3. Di tích cống/rãnh nước

Gắn liền với các công trình kiến trúc, tại khu A đã tìm thấy nhiều hệ thống đường cống/rãnh tiêu thoát nước. Hệ thống cống/rãnh tiêu thoát nước ở đây bao gồm hệ thống tiêu thoát nước riêng cho từng công trình như hệ thống rãnh nước bao quanh kiến trúc LYAKT004 ở phía Bắc nêu trên và hệ thống cống nước lớn tiêu thoát nước chung cho cả khu vực có nhiều công trình kiến trúc. Cống nước lớn nằm ở phía Nam móng tường bao LYATB014 là những minh chứng rất cụ thể, cho thấy tính khoa học trong qui hoạch của kiến trúc thời Lý. Tất cả các cống nước ở đây đều được xây dựng rất công phu bằng loại gạch chuyên dụng hình bình hành và hình thang (cống chữ V) hay bằng gạch vuông, gạch chữ nhật (cống chữ U), bên trên những cống nước lớn có nắp đậy bằng đá rất kiên cố (xem Hình 35-36).

2. Di tích thời Lý ở Khu B

Khu B là khu vực phát hiện dày đặc các loại hình di tích của nhiều thời kỳ nằm chồng xếp lên nhau, do đó, việc nghiên cứu phân định mặt bằng có độ phức tạp nhiều hơn so với khu A và các khu vực khác trong tổng thể của khu di tích.

Di tích thời Lý tìm thấy ở khu B khá nhiều, nhưng phần lớn xuất lộ chưa hoàn chỉnh và đặc biệt là các kiến trúc ở phía Đông đã bị đào phá bởi con sông thời Lê sơ.

2.1. Di tích kiến trúc

Tại khu B, kết quả nghiên cứu năm 2009-2011 đã xác định được dấu tích của 10 di tích kiến trúc (BV.04). Đó là kiến trúc LYBKT022, LYBKT023, LYBKT029, LYBKT030, LYBKT032, LYBKT033, LYBKT034, LYBKT035, LYBKT036 và LYBKT047, trong đó, nhận biết rõ ràng và đầy đủ nhất là các kiến trúc tiêu biểu nêu dưới đây.

 

BV.04: Mặt bằng tổng thể kiến trúc thời Lý ở khu B. BV.05: Mặt bằng kiến trúc thời Lý ở phía Bắc khu B gồm kiến trúc LYBKT023, rãnh nước LYBRN026, đường đi LYBDD027, rãnh nước LYBRN028 và mặt cắt ngang Bắc - Nam của kiến trúc LYBKT023.
   
Hình 23-24: Mặt bằng kiến trúc LYBKT023 ở phía Bắc khu B. Phía Nam của kiến trúc là hiên gạch và hệ thống cống nước được xây bằng loại gạch chuyên dụng. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

a) Kiến trúc LYBKT023

Kiến trúc nằm ở phía Bắc khu B, nằm cạnh con đường đi LYBĐG027 ở phía Nam (Hình 23-24; BV.01, 05). Đây là con đường lớn kết nối từ kiến trúc LYAKT004 (khu A) kéo dài qua khu B và chạy thẳng sang khu D. Mặt bằng kiến trúc đã xuất lộ trong diện tích gần 250m2, với 5 chân tảng đá còn nguyên vẹn ở vị trí ban đầu và 11 móng trụ sỏi hình vuông, xếp theo chiều ngang Đông – Tây với 4 hàng chân cột tương ứng là 3 gian nhà. Đáng lưu ý, hai đầu các móng trụ ở phía Bắc và phía Nam đều tìm thấy các cột âm được chôn sâu dưới lòng đất. Bằng chứng này cho thấy, đây là kiến trúc rất đặc biệt được xây dựng kết hợp giữa hệ cột âm của hàng hiên và hệ cột dương đặt trên các chân tảng ở trong lòng nhà. Do mới xuất lộ 3 gian và kiến trúc còn mở rộng sang hai bên phía Đông và phía Tây, nên chưa thể xác định được rõ qui mô và số gian cụ thể. Tuy nhiên, dựa vào sự phân bố móng trụ, chân tảng và cột âm cho thấy kiến trúc này mỗi vì có 6 cột gỗ, khoảng cách giữa cột quân với cột cái là 3,45m, khoảng cách giữa hai cột cái (lòng nhà) là 7,75m, khoảng cách giữa cột cái với cột quân ở phía Bắc là 3,51m và khoảng cách bước gian từ 5,17m-5,30m. Như vậy, nếu tính cả hàng hiên, mặt bằng kiến trúc có chiều rộng khoảng trên 20,0m. Và, dựa vào vị trí gian chính giữa lòng nhà (có bước gian lớn hơn các gian hai bên) và xem xét về qui hoạch tổng thể của kiến trúc Lý trong khu vực, kiến trúc này được suy đoán là có khả năng có qui mô rất lớn và có nhiều gian.

Các chân tảng còn lại trong lòng kiến trúc đều là loại đá sa thạch màu xám, có khối hình vuông, bề mặt chạm nổi cánh sen giống như chân tảng của kiến trúc LYAKT019 và LYAKT021 ở phía Nam khu A. Chân tảng có kích thước khá lớn và đều nhau 78cm x 78cm, dấu vết đường kính cột khoảng 50cm-52cm, lớn hơn so với chân tảng đá của kiến trúc ở phía Nam khu A nói đến ở đây.

Các trụ móng sỏi còn lại cũng có kích thước khá lớn, trung bình từ 1,30m x 1,30m đến 1,60m  x 1,60m. Năm 2003 đã đào cắt kiểm tra cấu trúc 2 trụ sỏi của kiến trúc này cho thấy, nó được chôn sâu hơn 1,0m trong hố hình vuông và đào sâu xuống tầng văn hóa thời Đại La.

Căn cứ vào những viên gạch vuông lát xung quanh chân tảng cột ở góc Đông Bắc còn sót lại cho thấy, nền nhà của kiến trúc này từng được lát bằng loại gạch vuông có kích thước 37,5 x 38 x 7cm. Đồng thời, trong lòng kiến trúc còn có sự phân gian hay phân phòng bằng những hàng gạch chôn nghiêng nhằm kê đỡ hệ thống xà ngưỡng bằng gỗ.

Dựa vào bố cục mặt bằng, kiến trúc LYBKT023 được xác định rõ là nằm ngang theo chiều Đông Tây, mặt quay về hướng chính Nam. Phía trước có thềm hiên lát bằng nhiều loại gạch hình chữ nhật rộng 3,58m. Khoảng cách giữa các bậc thềm lát gạch đều có hiện tượng dựng gạch đứng, một phần chôn xuống đất, giống như kiểu bó nền. Tại vị trí gian chính giữa, có một khoảng thềm gạch được gia cố cẩn thận và tạo lối đi vào bên trong lòng nhà. Phần phía dưới của thềm hiên có một đường cống thoát nước LYBRN026 chạy song song sát cạnh con đường LYBĐG027. Rãnh nước này được xây xếp bằng loại gạch chuyên dụng hình thang và hình bình hành rất công phu, kiên cố và có mặt cắt hình thang, sâu 26cm – 27cm.

b) Kiến trúc LYBKT029

Đây là kiến trúc được dựng trên những hàng móng trụ đỡ cột gỗ nằm thẳng hàng theo chiều Đông – Tây, nghĩa là nó nằm song song với con đường LYBĐG027 và hệ thống các công trình kiến trúc LYBKT023 ở phía Bắc, LYBKT030, LYBKT032, LYBKT033 và LYBKT034 ở phía Nam.

Hơn nửa kiến trúc này đã bị phá hủy khi nhà Lê sơ đào con sông ở giữa khu A-B. Phần dấu tích kiến trúc hiện còn ở phía Tây có 22 móng cột, gồm 16 móng cột dương và 6 móng cột âm phân thành 5 hàng chạy theo chiều Bắc – Nam, trong đó hàng móng cột dương ở đầu hồi phía Tây có 5 móng, 3 hàng liền kề phía Đông có 4 móng cột dương và 2 móng cột âm, phân theo chiều ngang lòng nhà là 17,7m (tính từ tim móng) với 3 khoảng cách, có bước gian là 1,5m – 3,6m – 7,5m – 3,6m – 1,5m. Khoảng cách nhỏ 1,5m ở đầu phía Bắc và phía Nam chính là hàng hiên được dựng trên hệ móng trụ cột âm (cột chôn).

Nghiên cứu so sánh với các kiến trúc ở phía Đông khu B cho thấy, kiến trúc LYBKT029 được xây dựng đăng đối và có qui mô, kích thước, kỹ thuật xây dựng giống như kiến trúc LYBKT034 nói đến ở phần dưới bài viết này. Đây cũng là kiến trúc được xây dựng kết hợp hai kỹ thuật là hệ cột dương bên trong lòng nhà và hệ cột âm ở hàng hiên xung quanh (BV.04, 06; Hình 25-26).

Từ kết quả nghiên cứu so sánh, kiến trúc LYBKT029 được nhận biết có qui mô khá lớn, diện tích khoảng 765,5m2 (dài (Đông - Tây) 37,9m x rộng (Bắc - Nam) 20,2m). Tuy mặt bằng của kiến trúc hiện chỉ còn 22 móng (16 móng cột dương và 6 móng cột âm), nhưng nghiên cứu so sánh với kiến trúc LYBKT034 có thể suy đoán, kiến trúc này có khoảng 62 móng trụ (tương ứng 62 cột gỗ), trong đó gồm 38 móng trụ của cột dương và 24 móng trụ của cột âm. Hệ thống móng trụ được phân thành 11 hàng chạy theo chiều Bắc – Nam, trong đó, hệ móng cột dương ở đầu hồi phía Tây và phía Đông có 5 móng, hệ móng cột dương trong lòng nhà có 4 móng. Từ qui luật phân bố hệ thống móng trụ, mặt bằng kiến trúc LYBKT029 được xác định có số gian chẵn là 8 gian và 2 chái, kết cấu vì kèo gồm 6 hàng cột (4 cột dương trong lòng nhà và 2 cột âm ở hàng hiên phía Bắc và phía Nam).

c) Kiến trúc LYBKT032

Kiến trúc nằm giữa hai kiến trúc nhỏ là LYBKT030 và LYBKT033, song song với kiến trúc LYBKT023, LYBKT029 ở phía Bắc và kiến trúc LYBKT034, LYAKT019 ở phía Nam (BV.06).

Kiến trúc này cơ bản đã bị đào phá bởi con sông thời Lê sơ, chỉ còn lại 8 móng trụ sỏi của 2 hàng cột ở đầu hồi phía Tây. Dựa vào hệ thống móng trụ của 2 hàng cột còn lại và kết quả nghiên cứu về qui hoạch tổng thể của kiến trúc thời Lý ở khu A-B, chúng tôi cho rằng, kiến trúc LYBKT032 có kết cấu bộ vì có 4 cột và khả năng thuộc kiến trúc có số gian chẵn gồm 4 gian 2 chái, có diện tích khoảng 437,6m2 (dài 34,11m x rộng 12,83m). Nếu suy đoán này là đúng, thì đây là kiến trúc thời Lý có số gian chẵn thứ 2 ở khu B.

d) Kiến trúc LYBKT034

Kiến trúc nằm ngang theo chiều Đông – Tây, song song với kiến trúc LYBKT029 ở phía Bắc, song song và cách tường bao lớn LYATB014 ở phía Nam khoảng 6,4m. Cũng giống như kiến trúc LYBKT029 nói trên, kiến trúc này đã bị phá hủy hơn một nửa bên phía Đông khi nhà Lê sơ đào con sông ở giữa khu A-B. Phần dấu tích kiến trúc hiện còn ở phía Tây có 24 móng cột, gồm 16 móng cột dương và 8 móng cột âm phân thành 5 hàng chạy theo chiều Bắc – Nam, trong đó hàng cột dương ở đầu hồi phía Tây có 5 móng trụ sỏi, 2 hàng nằm liền kề ở phía Đông có 4 móng cột dương và 2 móng cột âm (nghĩa là mỗi vì có 6 cột) phân bố theo bề ngang lòng nhà là 17,7m (tính tim móng) với 5 khoảng cách, có bước gian là 1,5m – 3,6m – 7,5m – 3,6m – 1,5m. Trong đó, khoảng cách nhỏ 1,5m ở hai đầu chính là hiên phía Bắc và Nam được dựng trên hàng móng trụ cột âm (BV.06; Hình 28).

Năm 2010, chúng tôi tiếp tục khai quật khu vực lòng sông để làm rõ qui mô và tính chất của kiến trúc này. Kết quả dưới đáy lòng sông chúng tôi đã tìm thấy 07 móng cột âm có cùng phương vị với hàng móng trụ đã xuất lộ ở phía Tây. Trong đó, có 2 móng trụ vẫn còn lưu lại chân tảng đá nằm phân bố đăng đối với 2 móng cột gỗ ở đầu hồi phía Tây của kiến trúc trên một đường thẳng dài 35,4m.

Dựa vào sự phân bố của hệ thống móng trụ, kiến trúc LYBKT034 được nhận biết khá rõ ràng với mặt bằng hình chữ nhật, chạy dài theo chiều ngang Đông - Tây 37,9m, chiều rộng Bắc - Nam 20,2m, tổng diện tích là 765,5m2, có qui mô to lớn như kiến trúc LYBKT029 nêu trên. Mặt bằng của kiến trúc tuy chỉ còn 36 móng (16 móng cột dương và 20 móng cột âm), nhưng nếu tính theo qui luật và phạm vi phân bố, kiến trúc này có tổng số 62 móng trụ (tương ứng 62 cột gỗ), trong đó bao gồm 38 móng trụ của cột dương và 24 móng trụ của cột âm. Hệ thống móng trụ này phân chia thành 11 hàng chạy theo chiều Bắc – Nam, trong đó hệ móng cột dương ở đầu hồi phía Tây và phía Đông có 5 móng, hệ móng cột dương nằm trong lòng nhà có 4 móng. Từ cách tính này, mặt bằng kiến trúc LYBKT034 được xác định cũng có số gian chẵn tương tự như kiến trúc LYBKT029, nghĩa là nó có 8 gian và 2 chái, kết cấu vì kèo gồm 6 hàng cột (4 cột dương trong lòng nhà và 2 cột âm ở hàng hiên phía Bắc và phía Nam). Như vậy, đây là kiến trúc thứ 3 ở khu B có số gian chẵn.

     
      BV.06: Mặt bằng quần thể kiến trúc thời Lý bên phía Nam con đường đi LYBDDG027, nằm ở Đông khu B, gồm LYBKT029, LYBKT030, LYBKT032, LYBKT033, LYBKT034.
       

Toàn bộ các móng trụ của kiến trúc đều được đào xuyên qua tầng sét đắp nền nhà và ăn sâu xuống tầng văn hóa Đại La. Hố móng sâu gần 2,0m, có mặt cắt hình thang thu hẹp dần xuống đáy. Vật liệu gia cố trong móng trụ là sét – sỏi được đầm theo từng lớp dày từ 5cm – 10cm. Kích thước bề mặt của móng trụ đều thống nhất dao động từ 1,3m đến 1,4m, không phân biệt cột cái và cột quân.

Sự mô tả nêu trên cho thấy tính chất rất độc đáo và sự phức tạp trong kỹ thuật xây dựng của kiến trúc LYBKT034. Bởi vì, kiến trúc này được xây dựng kết hợp hai kỹ thuật là cột dương và cột âm, giống như kiến trúc LYAKT013 và LYBKT029, khác biệt hoàn toàn với các kiến trúc Lý ở khu vực là chủ yếu xây dựng bằng kỹ thuật cột dương. Tại vị trí đầu hồi phía Tây của kiến trúc hiện còn 3 cột gỗ của cột âm đang đứng nguyên trên chân tảng đá. Đây là cơ sở khoa học cho những nhận định chung về kỹ thuật xây dựng cột âm của kiến trúc Lý. Điểm đáng lưu ý nữa là, cao độ của đáy móng cột âm thường sâu hơn đáy móng cột dương khoảng từ 20cm đến 30cm.

Mặc dù, nhiều móng trụ đã bị phá hủy, song nhờ sự có mặt đầy đủ của hàng cột âm (cột hiên) bao quanh nền kiến trúc nên có thể xác định chính xác các số đo kích thước của kiến trúc LYBKT034 như sau:

- Chiều rộng kiến trúc (Bắc – Nam) có kích thước 17,7m, được phân chia thành 5 khoảng cách bước cột: 1,5m – 3,6m – 7,5m – 3,6m – 1,5m.

- Chiều dài kiến trúc (Đông – Tây) có kích thước 35,4m, được chia thành 10 khoảng cách (tương ứng 10 gian) có số đo như sau: 1,5m – 3,6m – 2,4m – 5,1m – 5,1m – 5,1m - 5,1m – 2,4m – 3,6m – 1,5m.

Phần trên của kiến trúc LYBKT034 cơ bản đã bị phá hủy nặng nề bởi sự cải tạo xây dựng vào các giai đoạn sau, đặc biệt là việc kiến tạo con sông vào thời Lê sơ. Nhưng dựa vào những dấu vết còn sót lại, kết cấu và kỹ thuật xây dựng của kiến trúc này vẫn có thể nhận biết. Ví dụ như kỹ thuật gia cố nền nhà cho thấy rõ là được đắp bằng đất sét màu vàng, xung quanh móng nền được bó gạch. Và, từ manh mối dấu tích còn lại của khoảng sân rộng 3,0m được lát bằng gạch vuông màu đỏ tại vị trí đầu hồi phía Tây cho thấy, xung quanh công trình này xưa vốn được lát gạch vuông khá công phu và đẹp đẽ.

Mặt khác, việc tìm thấy những phần còn lại của những móng trụ nằm dưới đáy dòng sông đã minh chứng sinh động rằng, xưa kia khu vực này vốn là mặt bằng cư trú rất ổn định. Và, sự xuất hiện của một số dấu tích móng kiến trúc thời Đại La và thời Đinh – Tiền Lê ở đây cũng phản ánh rằng, các công trình kiến trúc Lý được xây dựng trên cơ tầng văn hóa của thời kỳ Tiền Thăng Long là rất rõ ràng. Nhưng dấu tích của tất cả các công trình kiến trúc đó đều cơ bản đã bị phá hủy khi nhà Lê sơ qui hoạch lại Kinh thành, kiến tạo một dòng sông bên trong Cấm thành làm mạch lối giao lưu với bên ngoài, vừa tiện lợi cho những chuyến du ngoạn bằng thuyền, vừa tạo dựng cảnh quan thiên nhiên thơ mộng cho quần thể kiến trúc bên trong Cấm thành. Bằng chứng này cũng đồng nghĩa cho nhận định khoa học chắc chắn rằng, con sông này là sông đào chứ không phải là sông tự nhiên như những suy đoán trước đó.

Hình 25-26: Chi tiết gạch bó nền, móng trụ sỏi cột dương và dấu vết móng cột âm của kiến trúc LYBKT029; Dấu tích móng trụ và cột gỗ (cột âm) của kiến trúc LYBKT029 bị đào phá bởi con sông thời Lê sơ nằm giữa khu A-B.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   
 
Hình 27-29: Chi tiết móng cột âm có cột gỗ còn đứng nguyên ở vị trí ban đầu của các kiến trúc Lý: LYAKT013, LYBKT034 và LYBKT023. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 
Hình 30-31: Dấu vết bậc thềm của kiến trúc LYBKT036 cùng khoảng sân gạch kết nối với kiến trúc LYBKT029 ở phía Đông; Dấu tích móng tường bao/tường ngăn nằm giữa kiến trúc LYBKT032 và LYBKT034. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

e) Kiến trúc LYBKT035

Dấu tích kiến trúc này được chúng tôi phát hiện năm 2010 khi tiến hành tái điều tra, khai quật khu vực lòng sông ở giữa khu A-B. Đây là kiến trúc nằm ngang theo chiều Đông Tây và được tìm thấy dưới nền móng của kiến trúc LYBKT034 nêu trên.

Nền móng kiến trúc LYBKT035 xuất lộ chưa đầy đủ, thiếu hẳn một phần phía Đông, nhưng dựa vào dấu tích đã xuất lộ và theo qui luật phân bố của móng trụ, có thể xác định phạm vi kiến trúc có diện tích rộng 347,5m2 (chiều rộng Bắc - Nam 9,6m x chiều dài Đông - Tây 36,2m). Và, dựa vào dấu tích còn lại của 09 móng trụ phân bố đăng đối thành 2 hàng chạy song song, mỗi hàng 2 móng có thể xác định mặt bằng của kiến trúc có hình chữ nhật, kết cấu 2 hàng cột, có 5 gian 2 chái. Cấu trúc móng trụ của kiến trúc có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh rộng khoảng 1,0m – 1,2m. Mặt cắt móng hình thang, trên miệng rộng và thu hẹp dần xuống đáy với chiều sâu trong khoảng 1,2m. Đáy móng được gia cố bằng sỏi ngói và đất sét, dày 35cm, phía trên đặt chân tảng đá sau khi dựng cột đất sét được chèn vào xung quanh theo từng lớp.

Dựa vào sự phân bố của hệ thống móng trụ, kích thước của kiến trúc LYBKT035 được xác định cụ thể như sau:

- Chiều rộng của kiến trúc (Bắc - Nam) có kích thước 9,6m, gồm 2 cột, khoảng cách rộng 8,0m.

- Chiều dài của kiến trúc (Đông – Tây) có kích thước 36,2m, được phân thành 7 khoảng cách, có số đo: 1,6m – 6,2m – 6,2m – 6,6m – 6,2m – 6,2m – 1,6m.

Điểm đáng lưu ý là phương vị của kiến trúc này nằm lệch hẳn so với phương vị của các kiến trúc thời Lý khác như LYATB014, LYBKT034. Điều này đồng nghĩa rằng, nó không trùng khớp với phương vị của hệ tọa độ Hoàng thành Thăng Long. Theo kết quả nghiên cứu nhiều năm qua cho thấy, sự khác nhau về phương vị của kiến trúc thường phản ánh sự khác nhau về thời kỳ hay giai đoạn xây dựng công trình. Mặt khác, dựa vào bằng chứng một chân đá tảng kê cột âm còn nằm nguyên ở vị trí móng trụ đưa đến giả thuyết rằng, kiến trúc LYBKT035 có thể thuộc kiến trúc cột âm. Nếu giả thuyết này là chính xác thì đây là phát hiện rất có ý nghĩa khoa học trong việc luận giải về truyền thống kỹ thuật xây dựng kiến trúc cột âm ở Việt Nam.

Dựa vào kỹ thuật xây dựng và phương vị, kiến trúc LYBKT035 được xác định là loại hình kiến trúc có niên đại sớm nhất trong hệ thống kiến trúc thời Lý ở khu B, có thể được xây dựng vào giai đoạn đầu triều nhà Lý, đầu thế kỷ 11.

f) Kiến trúc LYBKT036

     
      BV.07: Mặt bằng kiến trúc thời Lý ở giữa khu B - LYBKT036, hệ thống cống nước ở hai bên Đông - Tây và mặt cắt ngang chiều Đông - Tây của kiến trúc LYBKT036.
       

Kiến trúc nằm ở giữa khu B, theo hướng Bắc – Nam, song song với kiến trúc LYAKT004 ở phía Bắc khu A và vuông góc với tường bao LYATB014 ở phía Nam. Đây là kiến trúc “nhà dài” rất độc đáo, xuất lộ hoàn chỉnh nhất, đủ 13 gian với 14 hàng chân cột, gồm 11 gian và 2 chái (BV.07; Hình 32-33).

Mặt bằng của kiến trúc có diện tích khoảng trên 558m2 (rộng 9,0m x dài 62,0m), có kết cấu mỗi vì 3 cột, nằm cách đều nhau. Khoảng cách giữa các cột là 3,70m; khoảng cách lòng gian đầu hồi hẹp hơn, cụ thể đầu hồi phía Nam rộng 2,25m, đầu hồi phía Bắc rộng 2,5m; khoảng cách giữa các vì bên trong lòng nhà rộng trung bình từ 4,7m – 4,9m.

Như vậy, với kết cấu nêu trên thì mặt bằng của kiến trúc này có tới 42 trụ móng sỏi để đặt chân tảng đá, tương ứng với nó là hệ thống 42 cột gỗ, nhưng hiện nay chỉ còn 39 móng trụ sỏi. Các móng trụ sỏi này đều có hình vuông, kích thước trung bình từ 1,20m x 1,20m đến 1,35m x 1,35m.

Điều đáng lưu ý là, kiến trúc LYBKT036 nằm ở vị trí trung tâm giữa kiến trúc hành lang LYBKT047 ở phía Tây và hệ thống kiến trúc nằm ngang ở bên phía Đông của khu B. Nó kết nối với kiến trúc hành lang LYBKT047 ở phía Tây qua sân gạch và đường cống thoát nước lớn; kết nối với các kiến trúc LYBKT029, LYBKT030, LYBKT032, LYBKT033, LYBKT034 qua sân gạch và cống nước nhỏ chạy dọc theo chiều Bắc Nam. Từ bằng chứng này cho thấy, kiến trúc LYBKT036 có mối quan hệ chặt chẽ với các công trình kiến trúc xung quanh và các công trình kiến trúc ở đây được qui hoạch xây dựng trong cùng một thời kỳ (BV.04, 06; Hình 30).

Ngoài các công trình kiến trúc có qui mô lớn nêu trên, cũng giống như khu A, tại khu B còn có 03 công trình kiến trúc có qui mô nhỏ, mặt bằng hình chữ nhật và được xây dựng bằng kỹ thuật móng trụ kép (cột đôi) rất độc đáo. Đó là kiến trúc LYBKT022, LYBKT030, LYBKT033. Những kiến trúc này cũng có đặc điểm và qui mô tương tự như kiến trúc LYAKT011 ở khu A đã mô tả ở trên.

 

Hình 32-33: Kiến trúc thời Lý ở giữa khu B - LYBKT036; Các loại đồ gốm và vật liệu kiến trúc (đầu rồng, chim phượng, cối cửa) tìm thấy trong lòng kiến trúc LYBKT036. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

 

 
Hình 34-36: Hệ thống cống thoát nước lớn nằm ở phía Đông của kiến trúc LYBKT036; Chi tiết cống nước được xây bằng gạch chuyên dụng và xây bằng gạch hình chữ nhật. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

            

2.2. Di tích tường bao

Ngoài dấu tích móng tường bao kéo dài từ khu A sang khu B đã giới thiệu ở trên, tại khu B còn có 03 dấu tích móng tường bao được xây dựng nhằm ngăn cách giữa các công trình kiến trúc. Đó là tường bao LYBTB045 được xây dựng vuông góc với tường bao phân gianh không gian Hoàng cung (LYAKT014) và dừng lại đầu hồi phía Nam của kiến trúc LYBKT036 và 2 tường bao LYBTB041, LYBTB043 nằm theo chiều Bắc – Nam, song song với kiến trúc LYBKT036 ở phía Đông. Hai tường bao này được xây dựng sát bên ngoài đầu hồi của 2 kiến trúc nhỏ LYBKT030 và LYBKT033 và kéo dài đến đầu hiên của các kiến trúc LYBKT034 - LYBKT032 - LYB029. Tường bao này có chức năng như tường ngăn/tường vách nhằm phân cách giữa các kiến trúc ở phía Đông với kiến trúc LYBKT036 ở phía Tây (Hình 31). Móng các tường bao này đều gia cố đầm chặt bằng sỏi, bề mặt rộng khoảng 1,0m, bên trên tường bao LYBTB043 còn lại một đoạn chân tường xây gạch, có chiều rộng khoảng 90cm.[11] Tư liệu này là gợi ý rất quan trọng, không những cung cấp cơ sở tin cậy cho việc khẳng định về hệ thống tường bao thời Lý được xây dựng bằng gạch kiên cố mà còn gợi ý về kỹ thuật và cách tính tỷ lệ trong việc xây dựng các tường bao thời Lý.

2.3. Di tích rãnh nước

Bên cạnh di tích nền móng kiến trúc, tường bao, tại khu B có rất nhiều hệ thống rãnh nước, bao gồm rãnh nước ngầm và rãnh nước nổi. Trong đó, đáng lưu ý, là hệ thống 2 rãnh thoát nước được xây dựng bằng loại gạch chuyên dụng ở hai bên dấu tích con đường tại vị trí phía Bắc khu B (LYBRN026, LYBRN028). Rãnh nước lớn, kí hiệu LYBRN040 nằm song song ở phía Tây kiến trúc 3 hàng cột (LYBKT036) rồi bắt vuông góc và gấp khúc hình thước thợ chạy xuyên qua chân tường phân gianh ở phía Nam khu B. Hệ thống cống này được xây dựng rất kiên cố và cho thấy về quy hoạch rất qui chuẩn của kiến trúc thời Lý (Hình 34-35).

II. MỘT SỐ NHẬN XÉT THAY KẾT LUẬN

1. Phát hiện khảo cổ học tại Khu A-B, khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu vào những năm 2002-2004 đã cho chúng ta những minh chứng không thể phủ nhận đây là vị trí quan trọng của Cấm thành Thăng Long. Nhưng những nhận thức đầy đủ về diện mạo, qui mô, tính chất và những giá trị đích thực của các di tích đã xuất lộ chỉ thực sự được làm sáng tỏ từ sau những năm 2006-2008 (Giai đoạn 1), đặc biệt là trong những năm 2009-2011 (Giai đoạn 2) khi công tác tái điều tra, khai quật và nghiên cứu được đẩy mạnh.

2. Trong lịch sử cổ trung đại, kiến trúc cung điện còn gọi là kiến trúc cung đình, được xây dựng nhằm củng cố sự thống trị, thể hiện quyền lực tối cao của hoàng đế, phô diễn đẳng cấp, sự uy nghiêm và thoả mãn sự hưởng thụ cuộc sống tinh thần, cuộc sống vật chất của nhà vua và hoàng gia. Do đó, những kiến trúc này thường có qui mô to lớn, được xây dựng kiên cố, công phu, trang trí cầu kỳ và nguy nga lộng lẫy.

Tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã tìm thấy phần còn lại của những tòa nhà kiên cố thể hiện rõ qua dấu tích nền móng các công trình. Đó chính là dấu tích của những kiến trúc cung điện, lầu gác, hành lang có qui mô lớn cùng hệ thống tường bao, cống nước, giếng nước, đường đi lối lại, khẳng định vị trí quan trọng của nó trong khu trung tâm Cấm thành của Kinh đô Thăng Long xưa (Bùi Minh Trí, Tống Trung Tín 2010).

Mặc dù, những dáng vẻ huy hoàng của các kiến trúc cung điện thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long không còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay như kiến trúc Cố Cung - Bắc Kinh (Trung Quốc) hay Changdokung - Seoul (Hàn Quốc), nhưng phát hiện dưới lòng đất của khảo cổ học đã minh chứng thuyết phục rằng, các cung điện, lầu gác thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long vốn từng được xây dựng rất công phu, tráng lệ. Một số lượng lớn các loại hình di vật vật liệu kiến trúc như phù điêu, tượng tròn và ngói lợp mái trang trí rồng, phượng tìm được tại đây cho thấy, kiến trúc thời Lý được thiết kết dựng xây với sự phô bày vẻ đẹp rực rỡ, áp đảo bởi những đồ án trang trí mang tính vương quyền, thể hiện quyền lực tối cao của hoàng đế. Điều này cũng phản ánh sinh động rằng, đây vừa là trung tâm hành chính của vương triều, vừa là cung cấm của các hoàng đế nhà Lý kế tiếp nhau trị vì đất nước (Hình 37-39)[12].

 

Hình 37: Đầu rồng lớn trang trí trên ngói úp lợp góc mái kiến trúc cung điện, tìm thấy tại kiến trúc LYAKT004. Cao 1,1m, đất nung, thời Lý, thế kỷ 11-12. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Kết quả nghiên cứu so sánh trong nhiều năm qua chứng minh rằng, kiến trúc cung điện thời Lý là thành tựu đỉnh cao trong lịch sử phát triển của kinh thành Thăng Long, phản ánh xác thực về sự phát triển của xã hội thời Lý, về trình độ và kỹ thuật xây dựng rất cao của vương triều Lý. Nghiên cứu đánh giá từ phương diện phương vị, bố cục không gian và thiết kế kiến trúc, có thể nhận thấy, kiến trúc thời Lý đã phát triển mạnh mẽ với sắc thái rất riêng biệt và độc đáo. Nếu nhìn tổng thể về qui hoạch, kiến trúc thời Lý có phong cách rất đặc biệt, không tuân thủ nghiêm ngặt về bố cục không gian theo tính chất đăng đối qua trục trung tâm như trong quy hoạch đô thị mang tính chuẩn mực của quy chế xây dựng cổ đại ở Trung Quốc, mà sự đăng đối trong bố cục của kiến trúc Lý chủ yếu là mang tính tương đối, thể hiện tính linh hoạt, năng động và mang bản sắc riêng. Kiến trúc Lý không có những cung điện nhiều thềm bậc, nghĩa là nó không xây dựng nền quá cao như kiến trúc cung điện ở Cố Cung (Trung Quốc), mà chủ yếu có độ cao vừa phải với thềm bậc thấp và có hàng hiên nhỏ, không quá rộng.

Đồng thời, kết quả nghiên cứu so sánh cũng cho thấy, kiến trúc Hoàng cung Thăng Long có sự tiếp nối trong kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí giữa thời Lý và thời Trần, nhưng không có sự tiếp nối từ thời Lê sơ. Đặc biệt, nghiên cứu so sánh riêng về loại hình vật liệu xây dựng bộ mái giữa các thời kỳ có thể thấy rõ, kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc cung điện thời Lý đã đạt đến thành tựu đỉnh cao trong dạng thức kiến trúc cung đình ở Việt Nam, là kiến trúc cung điện nổi bật nhất của nền văn minh Đại Việt và là kiến trúc có sắc thái độc đáo, riêng biệt nhất trong hệ thống kiến trúc cung điện trong khu vực châu Á.

Và mặc dù, những công trình kiến trúc thời Lý ở khu A-B chưa xuất lộ hoàn chỉnh, nhưng qua dấu tích hệ thống tường bao xây gạch kiên cố tại đây cho thấy, kiến trúc Lý được qui hoạch rất qui chuẩn với nhiều không gian. Không gian của các công trình kiến trúc hay tổ hợp gồm nhiều công trình kiến trúc được phân chia, bao bọc bởi hệ thống tường bao lớn, tường bao nhỏ hoặc những đoạn tường ngắn ở giữa các công trình như kiểu tường ngăn/tường vách, kèm theo đó là sự liên kết giữa các công trình qua hệ thống sân, đường đi, cổng ra vào và hệ thống đường cống/rãnh tiêu thoát nước rất khoa học. Điều này phản ánh rằng, kiến trúc Lý được qui hoạch rất bài bản, vừa có không gian kín, vừa có không gian mở.

Trong quần thể 18 kiến trúc thời Lý ở khu A-B, có 01 công trình kiến trúc cột âm và 04 công trình kiến trúc có hệ thống cột hiên được chôn đứng sâu xuống lòng đất (cột âm). Đây là hiện tượng rất đặc biệt. Việc tìm thấy công trình kiến trúc cột âm hay những công trình kiến trúc được kết hợp kỹ thuật xây dựng hệ cột dương bên trong lòng nhà và hệ cột âm ở hàng hiên xung quanh phản ánh tính độc đáo và tính chất rất khác biệt của những công trình kiến trúc ở đây. Bằng chứng từ lòng đất tại khu vực xây dựng Nhà Quốc hội năm 2008-2009 (khu E) cho thấy, kiến trúc cột âm chủ yếu phổ biến và phát triển mạnh ở thời Đại La và Đinh - Tiền Lê. Nhưng phát hiện khảo cổ học tại khu A-B cho thấy, truyền thống kỹ thuật này vẫn kéo dài sang thời Lý, thế kỷ 11, mặc dù nó đã có những bước tiến rất cao về kỹ thuật xây dựng. Sự khác biệt về kỹ thuật xây dựng của những công trình kiến trúc sử dụng cột âm đang gợi mở về chức năng và ý nghĩa riêng biệt của nó trong hệ thống kiến trúc thời Lý trong Cấm thành Thăng Long xưa. Tuy nhiên, đây là vấn đề cần có thời gian nghiên cứu so sánh, đánh giá.

Bên cạnh những công trình kiến trúc sử dụng cột âm, tại khu A-B còn có 04 công trình kiến trúc nhỏ (LYAKT011, LYBKT022, LYBKT030, LYBKT033) có mặt bằng hình chữ nhật, được xây dựng với hệ thống móng trụ kép (móng trụ cột đôi) và có số gian chẵn (2 gian 2 chái) rất độc đáo, phản ánh tính đa dạng và sắc thái rất riêng của kiến trúc thời Lý. Vai trò, chức năng của những công trình kiến trúc này là gì và hình thái kiến trúc của nó như thế nào vẫn đang là câu hỏi bỏ ngỏ chưa có lời giải đáp. Dựa vào qui mô, vị trí xây dựng nằm xen kẽ giữa các công trình kiến trúc lớn, đặc biệt bên dưới nền nhà đều có rãnh nước ngầm đi qua, tôi nghĩ rằng, đây có thể là hệ thống kiến trúc "Dục Đường" (Nhà tắm) như sử cũ đã từng ghi chép[13]. Tuy nhiên, do các công trình kiến trúc này tuy nhỏ nhưng lại được xây dựng rất kiên cố bằng hệ móng trụ kép nên tôi đưa ra giả thuyết thứ hai, hoặc đây có thể là loại/kiểu "kiến trúc lầu gác" có nhiều tầng mái. Nghiên cứu so sánh trên nhiều phương diện, tôi nghiêng về giả thuyết thứ nhất, đó là kiến trúc nhà tắm (Dục Đường).

Thành quả nghiên cứu so sánh gần đây được đánh giá là có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu nhận diện về hình thái kiến trúc thời Lý, đó là hệ thống khung giá đỡ của kiến trúc. Dựa vào bằng chứng từ những chiếc "đấu" và "củng" gỗ khai quật được tại khu di tích, đặc biệt là dựa vào kết quả nghiên cứu so sánh từ các mô hình kiến trúc thời Trần trong những năm 2011-2013, tôi cho rằng, kiến trúc thời Lý có hệ thống khung giá đỡ là hệ "đấu củng"[14] giống như kiến trúc gỗ tại các cung điện của Trung Quốc hay Nhật Bản, Hàn Quốc, những quốc gia có chung nền văn minh viết chữ Hán. Các chuyên gia kiến trúc và khảo cổ học Nhật Bản cũng đồng thuận quan điểm này, tuy nhiên, hệ đấu củng của kiến trúc gỗ Việt Nam thời Lý đơn giản, không phức tạp như kiến trúc cung điện của các quốc gia này.

Một bằng chứng thú vị nữa là trên các đấu và củng đều có dấu vết tô son đỏ. Nhiều song cửa hình con tiện và những mẩu gỗ của cấu kiện kiến trúc tìm được tại di tích cũng thấy còn tươi nguyên màu đỏ của các lớp sơn. Điều này phản ánh rằng, bộ khung của kiến trúc gỗ thời Lý xưa chắc chắn được sơn son màu đỏ và có vẻ đẹp rất lộng lẫy.

Từ những phân tích nêu trên có thể kết luận rằng, quần thể di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B có thể được xem là những minh chứng cho những thành tựu nổi bật của kiến trúc cung điện thời Lý, phản ánh sinh động về sự phát triển rực rỡ của văn hóa thời Lý, đồng thời minh chứng sức sống truyền thống và sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa, văn minh Đại Việt cũng như trang sử vàng son trong lịch sử kiến trúc cổ Việt Nam, thế kỷ 11-13.

3. Nhìn nhận thành quả sau 10 năm nghiên cứu, nhất là những thành tựu đạt được từ công tác tái điều tra, khai quật và nghiên cứu thực hiện trong những năm 2009-2011 có thể nói rằng, nhận thức, đánh giá về di tích và các loại hình di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B nói riêng, khu di tích Hoàng thành Thăng Long nói chung, đã có những bước tiến rất dài và đã đạt được nhiều thành tựu khoa học quan trọng. Nhiều vấn đề vốn mang tính giả thuyết hay suy đoán hoặc chưa được biết đến trong các giai đoạn nghiên cứu trước cơ bản đã được làm sáng rõ hơn ở giai đoạn nghiên cứu này.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về các loại hình kiến trúc thời Lý ở khu A-B của khu di tích Hoàng thành Thăng Long nói trên cũng mới chỉ là kết quả nghiên cứu cơ bản về diện mạo mặt bằng, kỹ thuật xây dựng cũng như niên đại cơ bản nhất của các công trình kiến trúc đó. Mối quan hệ về thời gian và không gian cũng như việc đánh giá về qui hoạch cảnh quan đô thị của các công trình kiến trúc cung điện, lầu gác ở khu vực này vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu so sánh để làm sáng rõ hơn trong tương lai. Đặc biệt, việc nghiên cứu so sánh nhằm tiến tới nhận diện hình thái, tính chất, chức năng, tên gọi của các công trình kiến trúc Lý ở khu di tích là những vấn đề rất khó nhưng rất thú vị và hấp dẫn, cần phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu lâu dài.

Hình 38: Hình rồng gắn trên ngói úp nóc, men xanh lục (bị tróc men), thời Lý, thế kỷ 11-12. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 
Hình 39: Ngói ống lợp diềm mái, đầu trang trí hoa sen, bên trên gắn lá đề trang trí hình rồng. Đất nung, thời Lý, thế kỷ 11-12.

 


[1] Trong Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học, Uỷ ban Quốc tế Quản lý Di sản Khảo cổ học (ICAHM) được Đại Hội đồng ICOMOS thông qua tại Lausanne năm 1990 đã chỉ ra rằng: “Việc bảo vệ di sản khảo cổ học phải được đặt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ nhất có thể có được về phạm vi và tính chất di sản. Vì vậy, việc nghiên cứu tổng quát các nguồn tư liệu khảo cổ học là công cụ thiết yếu để xây dựng các chiến lược bảo vệ di sản khảo cổ học. Do đó, việc nghiên cứu khảo cổ học phải là nghĩa vụ cơ bản trong việc bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học”.                     

[2] Khái niệm "cột âm" hay "cột chôn" lần đầu tiên được chúng tôi sử dụng để gọi tên cho những cột gỗ của các di tích kiến trúc thời Đại La và Đinh - Tiền Lê được chôn sâu xuống hố móng nền của công trình phát hiện được tại khu vực xây dựng Nhà Quốc hội năm 2008-2009.

[3] Thời kỳ tiền Thăng Long tức là thời kỳ trước khi vua Lý Công Uẩn hạ chiếu dời đô về xây dựng Kinh đô Thăng Long, được giới khảo cổ xác định từ thời kỳ An Nam đô hộ phủ hay gọi là thời Đại La (thế kỷ 7 – 9) đến thời Đinh – Tiền Lê (thế kỷ 10).

[4] Toàn bộ bản vẽ di tích thực hiện năm 2002-2004 phải huỷ bỏ do thiếu độ chính xác và do các bản vẽ không đủ điều kiện và tiêu chuẩn để có thể ghép thành một bản vẽ tổng thể khu di tích theo tỉ lệ 1/100.

[5] Từ tháng 3/2008 đến tháng 9/2009, do phải tập trung thực hiện nhiệm vụ Dự án “Khai quật khảo cổ học và xử lý di dời di tích, di vật khu vực xây dựng Nhà Quốc hội”, nên công tác nghiên cứu di tích tại khu A-B phải tạm thời dừng lại. Tiếp đó, từ cuối năm 2009 đến tháng 10/2010, do phải đầu tư lớn thời gian cho việc thực hiện nhiệm vụ của Dự án “Chỉnh trang và tổ chức trưng bày di tích 18 Hoàng Diệu” và các công việc phục vụ cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tập trung trùng tu, tôn tạo di tích khu A-B, nên công tác nghiên cứu di tích tại khu A-B tiếp tục bị gián đoạn.

 

[6] Mã số kí hiệu của khu di tích được thực hiện theo phương pháp và qui định viết tắt như sau: Thời kỳ (Đại La = ĐL, Đinh - Tiền Lê = ĐI, Lý = LY, Trần = TA, Lê = LE) + Khu khai quật (Khu A = A, Khu B = B...) + Loại hình di tích (Kiến trúc = KT, Tường bao = TB, Giếng nước = GI, Sân gạch = SG...) + Số thứ tự của di tích. Ví dụ: LYAKT001 (Kiến trúc 01, thời Lý ở khu A, khu di tích Hoàng thành Thăng Long).

[7] Cột dương là hệ thống cột dựng bên trong lòng nhà (cột cái) và được kê đỡ bởi hệ thống chân tảng đá chạm cánh sen nằm trên mặt nền nhà lát gạch. Cột âm là hệ thống cột chôn dưới đất, dựng quanh nền nhà tạo thành hàng hiên 4 xung quanh (cột quân), kỹ thuật xây dựng là đào hố móng sâu xuống dưới lòng đất, sau đó dựng đứng cột gỗ lên trên chân tảng đá và được đầm chặt bởi đất và ngói vỡ.

[8] Đây là hai ngôi chùa rất nổi tiếng của thời Lý. Chùa Long Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Chùa do vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054, có tên chữ là Sùng Thiên Diên Linh tự. Đời vua Lý Nhân Tông, chùa tiếp tục được xây dựng, trong đó có tháp Sùng Thiện Diên Linh nổi tiếng, được sử cũ ngợi ca. Tháp được xây dựng trong vòng hơn 3 năm, từ năm 1118 đến năm 1121 mới hoàn thành. 

Chùa Dạm tên chữ là Đại Lãm Thần Quang tự, cũng được gọi là chùa Lãm Sơn, thuộc xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Chùa cũng do vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1086. Sau mười năm xây dựng, năm 1097 chùa Dạm mới hoàn thành.

 

[9] Chùa Todai có 2 tầng mái, cao 48m. Kiến trúc LYAKT021 không những có hệ thống móng trụ rất to lớn, mà các móng trụ này được xây dựng rất kiên cố, chôn sâu xuống lòng đất hơn 3,0m. Điều này cho thấy, kiến trúc có bộ khung chịu lực rất lớn.

[10] Bùi Minh Trí 2013: Kết quả nghiên cứu di tích kiến trúc khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 6 năm nghiên cứu (2008-2013), Tọa đàm khoa học quốc tế "Đánh giá kết quả nghiên cứu kiến trúc khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 6 năm nghiên cứu", tổ chức tại Hà Nội, tháng 9/2013.

[11] Móng tường bao này được xây dựng bằng loại gạch chuyên dụng hình vuông, kích thước nhỏ 19,5x18,5x5,0cm.

[12] Tống Trung Tín – Bùi Minh Trí 2006: Về một số dấu tích kiến trúc trong cấm thành Thăng Long thời Lý – Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học, nằm 2005 – 2006, Khảo cổ học, số 1.

[13] Năm 1203, Lý cao Tông "Xây cung mới tại phía Tây tẩm điện, ở giữa đặt điện Thiên Thụy, bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Thiềm Quang, phía trước xây điện Chính Nghi, ở trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao, ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng, phía sau mở điện Thắng Thọ, ở trên xây gác Nguyệt Bảo, chung quanh dựng hành lang, thềm gọi là Kinh Tinh. Bên trái Nguyệt Bảo đặt tòa Lượng Thạch, phía Tây xây nhà Dục Đường (nhà tắm), phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phương Tiêu, phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư (nuôi cá), trên ao xây đình Ngoạn Ỷ..."; Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005, tr.166.

[14] Đấu củng là một loại kết cấu đỡ mái, gồm 2 bộ phận cấu thành là đấucủng.


              TÀI LIỆU DẪN

  1. Bùi Minh Trí 2005: Nét đẹp của đồ gốm sứ trong Hoàng cung Thăng Long, trong Hoàng thành Thăng Long, Nxb. Văn hoá Thông Tin, tr. 65-97;
  2. Bùi Minh Trí, Tống Trung Tín 2010: Giá trị nổi bật toàn cầu, tính chân thực và toàn vẹn khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội từ phân tích đánh giá di tích khảo cổ học, Khảo cổ học, số 4, tr. 27-41;
  3. Bùi Minh Trí 2012: Gốm Việt Nam thời Lý, Khảo cổ học, số 1, tr. 69-74;
  4. Bùi Minh Trí, Tống Trung Tín 2013: Kết quả nghiên cứu di tích kiến trúc khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 6 năm nghiên cứu (2008-2013), Tọa đàm khoa học quốc tế "Đánh giá kết quả nghiên cứu kiến trúc khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 6 năm nghiên cứu", tổ chức tại Hà Nội, tháng 9/2013;
  5. Doanh tạo pháp thức, Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, 2005;
  6. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 1998;
  7. Nguyễn Hồng Kiên 1991: Bộ vì nóc của kết cấu nhà khung gỗ cổ truyền Việt Nam, Văn hóa Nghệ thuật, số 7;
  8. Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học, Uỷ ban Quốc tế Quản lý Di sản Khảo cổ học (ICAHM), Lausanne năm 1990;
  9. Kunikazu Ueno 2013: Nghiên cứu các công trình kiến trúc khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Tọa đàm khoa học quốc tế "Đánh giá kết quả nghiên cứu kiến trúc khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long sau 6 năm nghiên cứu", tổ chức tại Hà Nội, tháng 9/2013;
  10. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2007: Về một số dấu tích kiến trúc trong cấm thành Thăng Long thời Lý – Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học, năm 2005 - 2006, Khảo cổ học, số 1;
  11. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2008: Những phát hiện khảo cổ học về Hoàng thành Thăng Long, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế Việt Nam học (Lần thứ ba), Tập IV, Nxb. ĐHQGHN, tr. 548-560;
  12. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2010: Thăng Long - Hà Nội, lịch sử nghìn năm từ lòng đất, Nxb. KHXH;
  13. Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí 2010: Giá trị cơ bản của khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế "Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình", Nxb. ĐHQGHN, tr. 329-340;
  14. Trịnh Cao Tưởng 2007: Kiến trúc cổ Việt Nam từ cái nhìn khảo cổ học, Nxb. Xây dựng;
  15. Việt sử lược (bản dịch của Trần Quốc Vượng), Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005;
  16. Vũ Tam Lang 2010: Kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb. Xây dựng. 

PGS.TS. Bùi Minh Trí

(Thông báo khoa học năm 2014)