Di cốt động vật Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Giá trị khoa học và những vấn đề đặt ra

07/05/2016

Hoàng thành Thăng Long là một trong những khu di tích khảo cổ học có quy mô khai quật lớn nhất Việt Nam và mang tầm cỡ khu vực. Kết quả cuộc khai quật đã tìm được nhiều loại hình di tích và hàng triệu di vật minh chứng cho sự tiếp nối liên tục qua các thời kỳ, từ thời Đại La (thế kỷ 7-9), Đinh - Tiền Lê (thế kỷ 10) đến thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn (thế kỷ 11-19). Cùng với sự xuất hiện của các tầng văn hóa chồng xếp lên nhau là sự phát hiện đa dạng các loại hình di vật với nhiều chất liệu khác nhau. Di cốt động vật là một trong những loại hình hiện vật được tìm thấy với số lượng tương đối nhiều, đa dạng về thành phần loài, bao gồm cả động vật có xương sống và vỏ các loài động vật thân mềm (nhuyễn thể)... Việc tìm hiểu, nghiên cứu về các loại hình xương động vật tìm được tại di tích là minh chứng xác thực nhất để tìm hiểu về đời sống sinh hoạt cũng như môi trường cổ khu vực Hoàng thành Thăng Long qua các thời kỳ khác nhau....

MỞ ĐẦU

Hoàng thành Thăng Long là một trong những khu di tích khảo cổ học có quy mô khai quật lớn nhất Việt Nam và mang tầm cỡ khu vực. Kết quả cuộc khai quật đã tìm được nhiều loại hình di tích và hàng triệu di vật minh chứng cho sự tiếp nối liên tục qua các thời kỳ, từ thời Đại La (thế kỷ 7-9), Đinh - Tiền Lê (thế kỷ 10) đến thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn (thế kỷ 11-19). Cùng với sự xuất hiện của các tầng văn hóa chồng xếp lên nhau là sự phát hiện đa dạng các loại hình di vật với nhiều chất liệu khác nhau. Di cốt động vật là một trong những loại hình hiện vật được tìm thấy với số lượng tương đối nhiều, đa dạng về thành phần loài, bao gồm cả động vật có xương sống và vỏ các loài động vật thân mềm (nhuyễn thể)... Việc tìm hiểu, nghiên cứu về các loại hình xương động vật tìm được tại di tích là minh chứng xác thực nhất để tìm hiểu về đời sống sinh hoạt cũng như môi trường cổ khu vực Hoàng thành Thăng Long qua các thời kỳ khác nhau. Mặt khác, đây cũng là cơ hội hiếm có để tìm hiểu về thế giới động vật trong vùng đô thị Hà Nội cổ xưa, các hình thái chăn nuôi, sử dụng gia súc và cả những vật lạ được đem về nuôi trong cung vua, phủ chúa cũng như các vật nuôi phục vụ đời sống ẩm thực nơi Hoàng cung, hay được sử dụng trong các nghi lễ.... Trong quá trình khai quật, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu chuyên môn đã nhận định rằng, phần lớn xương động vật được tìm thấy trong những hố đất đen hoặc tập trung thành một khoảng với mật độ dày. Điều này dẫn đến nhận định ban đầu rằng, người ta đã đào những hố sâu gần khu vực cư trú như một phương thức xử lý rác thải sinh hoạt. Rất nhiều các loại hình di vật là xương động vật, vỏ nhuyễn thể, phần lớn là sản phẩm còn lại sau bữa ăn, có thể đã chôn lấp dưới dạng hố rác thải nằm ở gần khu vực cư trú hoặc có thể được vứt lộ thiên vào một thời điểm khu vực đó như là bãi rác.

 
Hình 1: Chuôi dao bổ cau được làm bằng nanh hổ, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Tìm thấy tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Những dẫn cứ nêu trên cho phép các nhà khoa học đặt ra một giả thuyết rằng, đây có thể chính là những tàn tích thức ăn của các bữa ăn, bữa tiệc trong Hoàng cung xưa. Những nghiên cứu cơ bản về nhóm di cốt động vật sẽ là căn cứ góp phần phác họa một bức tranh sinh động, chuẩn xác về môi trường sống và sinh hoạt văn hóa của người xưa, mà ở đây là những đại diện cho tầng lớp có vị thế xã hội cao nhất sống trong Hoàng cung Thăng Long, nơi hội tụ và kết tinh những tinh hoa và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam qua nhiều thời kỳ liên tục trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Kế thừa những kết quả nghiên cứu, phân loại ban đầu về di cốt động vật khu di tích Hoàng thành Thăng Long của các nhà cổ sinh vật học TS. Vũ Thế Long (năm 2007) và TS. Nguyễn Anh Tuấn (năm 2009), bài viết này sẽ hệ thống hóa tư liệu, phân tích đánh giá giá trị về kết quả nghiên cứu di cốt động vật của khu di tích, đồng thời đề xuất những giải pháp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị đối với loại hình di vật đặc biệt có ý nghĩa này.

I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BAN ĐẦU VỀ DI CỐT ĐỘNG VẬT

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long bắt đầu khai quật với mục đích khai quật thăm dò các di tích để giải phóng mặt bằng trước khi xây Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình mới theo đúng Luật Di sản Văn hóa. Do vậy, quá trình khai quật phải tiến hành khá gấp rút và điều đáng tiếc là các nhà cổ sinh vật học đã không có điều kiện trực tiếp tham gia xử lý các mẫu di cốt động vật tại hiện trường khai quật, dẫn đến nhiều chi tiết quan trọng có thể xác định ngay tại hiện trường đã bị bỏ qua. Tuy nhiên, xác định rõ đây là loại di vật có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nghiên cứu đời sống sinh hoạt tại Hoàng cung Thăng Long, nên ngay từ khi phát hiện, Ban Chủ nhiệm Dự án đã rất chú trọng trong công tác bảo quản để phục vụ cho việc nghiên cứu lâu dài. Theo báo cáo của Nguyễn Anh Tuấn thì, các di cốt động vật sau khi lấy lên khỏi hố khai quật đều được rửa sạch bằng nước hoặc làm sạch khô với những mẫu quá mềm hoặc dễ vỡ, phơi khô mẫu vật. Các mảnh xương được cho là thuộc cùng một cá thể và bị vỡ do tác động cơ học trong quá trình khai quật sẽ được gắn chắp (nếu có thể) để có được số liệu đầy đủ nhất. Xử lý bảo quản sơ bộ bằng hóa chất bảo vệ bề mặt mẫu vật. Các mẫu xương và vỏ nhuyễn thể được đựng trong túi nilon và các loại hộp nhựa chuyên dụng để giảm thiểu những ảnh hưởng của môi trường và chống những tác hại của sinh vật tới mẫu xương (Nguyễn Anh Tuấn 2009).

Để làm cơ sở cho công tác nghiên cứu đánh giá giá trị ban đầu về các loại hình di cốt động vật phát hiện được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long, năm 2007 và năm 2009, các chuyên gia cổ sinh vật học của Viện Khảo cổ học đã tham gia vào công việc nghiên cứu mang tính chuyên ngành này. Phương pháp phân loại các loại hình di cốt động vật của khu di tích lúc đó "chủ yếu dựa vào phương pháp so sánh hình thái giải phẫu với các mẫu xương, vỏ nhuyễn thể hiện có và với các tài liệu, átlat giải phẫu phân loại động vật. Xương động vật được xác định vị trí giải phẫu là đầu gần, đầu xa hay mảnh vỡ ở thân xương, loại xương. Đối với răng được xác định vị trí là răng cửa (I), răng nanh (C), răng tiền hàm (P) hay răng hàm (M); thuộc hàm trên hay hàm dưới, bên trái hay bên phải nếu có thể. Tùy theo mức độ đầy đủ của các vị trí so sánh hình thái còn lại của xương, răng mà các di cốt được phân loại đến bậc loài hoặc bậc họ. Tuy nhiên, cũng có nhiều mảnh xương vỡ vụn hoặc không còn những đặc điểm rõ ràng để có thể xác định vị trí hay định loài, những mảnh xương này được ghi nhận là xương động vật không xác định loài và lưu trữ theo hố lớp. Các mảnh vỏ của nhóm nhuyễn thể được xác định đến tên loài với những mẫu có đủ các tiêu chuẩn so sánh, với những mẫu không đủ các tiêu chuẩn phân loại loài thì được phân loại đến bậc họ hoặc bậc lớp. Những mẫu có dấu vết đặc biệt đều được ghi chép lại như dấu vết cưa cắt hay bị chặt, bị đốt cháy…" (Nguyễn Anh Tuấn 2009).

Kết quả nghiên cứu ban đầu tuy mới mang tính rất sơ bộ nhưng đã cho thấy di cốt động vật tìm được tại khu di tích có số lượng, thành phần loài là rất lớn và rất đa dạng, cả về động vật có xương sống và các loài động vật thân mềm. Những di cốt động vật có xương sống trong khu vực Hoàng Thành Thăng Long bao gồm hai nhóm động vật: động vật nuôi và động vật hoang dã hoặc có nguồn gốc hoang dã. Nhóm động vật do người nuôi gồm: chó, ngựa, lợn, trâu, bò, gà, cá... Những vật nuôi để ăn thịt như chó, lợn, gà, trâu, bò; làm sức kéo hoặc để cưỡi, tham gia chiến trận như trâu, bò, voi, ngựa... Con ngựa vừa để cưỡi, kéo xe và cũng là biểu trưng của quyền lực, cấp bậc trong hoàng cung. Nhóm động vật hoang dã hoặc có thể có nguồn gốc hoang dã được thuần và nuôi gồm: hươu nai, rùa biển, ba ba, voi, khỉ, lợn rừng.... Đây có thể là những vật lạ được đem về nuôi làm cảnh hoặc những vật được dâng hiến cho triều đình thưở trước. Một số động vật hoang dã cũng được chôn cất trong một vài vị trí đặc biệt. Liệu các di cốt này có liên quan đến một số phong tục tế lễ, chôn yểm thời xưa trong Hoàng thành? Vỏ các loài nhuyễn thể tìm thấy trong khu vực khai quật có thể chia thành ba nhóm sinh thái chính bao gồm: nhóm sống trong môi trường nước ngọt, trong những vực nước đứng như ao, hồ nhỏ ở khu vực đồng bằng với các đại diện như ốc đá, ốc vặn, ốc bươu, ốc nhồi..., nhóm sống trong môi trường nước ngọt, ưa mô hình nước chảy (sông, suối) như các loài trai, hến sông, điệp...; nhóm sống ở vùng sinh thái nước lợ, gặp phổ biến ở vùng sinh thái nước lợ, vùng cửa sông như các loài hàu, vọp, ốc phổi...; nhóm ở vùng sinh thái nước mặn thường gặp ở vùng biển nông ven bờ và vùng triều nước ta như các loài sò huyết, sò lông, sò nô đi, sò coocnê, ngao, ốc biển... (Vũ Thế Long 2007).

Tuy thành phần loài động vật tìm được tại khu Hoàng thành Thăng Long khá đa dạng nhưng mật độ lại không đồng đều, có những loài có số lượng lên đến hàng trăm, hàng nghìn mẫu nhưng có những loài số lượng mẫu rất ít, chỉ một vài mẫu. Trường hợp các xương nhỏ bị bỏ sót trong quá trình khai quật là không đáng kể, còn lại số lượng mẫu này có thể phán ánh khá trung thực bức tranh về những loại tàn tích thức ăn của Hoàng cung Thăng Long khi xưa. Nghiên cứu mức độ phân bố các loại mẫu di cốt động vật này cho phép các nhà khoa học mường tượng một phần đời sống sinh hoạt, những loại thực phẩm được ưa chuộng và những loại thực phẩm ít khi được sử dụng tới trong các bữa ăn của vua chúa, triều thần sống trong Hoàng cung Thăng Long.

Với nhóm các loại thực phẩm được ưa chuộng, trước tiên phải kể tới đó là nhóm động vật thuộc họ sừng rỗng (chủ yếu là trâu bò) sau đó là họ lợn và cuối cùng là họ ngựa. Mẫu di cốt của những loài động vật này gần như hố khai quật nào cũng xuất hiện và số lượng mẫu tại mỗi hố là tương đối lớn. Số mẫu xương trâu bò chiếm đến 50,84%, lợn chiếm 17,5% và ngựa là 7,89%. Tổng số xương của ba nhóm động vật này đã lên đến 76,23% số xương thu thập được, đã định loại. Ngoài ra, có một số lượng lớn xương động vật (9,88%) là không xác định được thuộc loài nào, nhưng hầu hết chúng đều là những mảnh xương to, có thể xác định đại đa số chúng cũng thuộc vào nhóm động vật này (Biểu đồ 1).

         
     

Hình 2: Sừng bò và sừng trâu,

tìm thấy trong tầng văn hóa

Tiền Thăng Long, thế kỷ 9-10.

 

Hình 3: Sừng hươu nai tìm thấy trong tầng văn hóa thời Lê.

 

Hình 4: Mai rùa tìm thấy trong tầng văn hóa thời Trần.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 
           

Nhiều xương trâu bò tìm thấy trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long có dấu vết cắt hoặc bị chặt. Tuy trong các báo cáo không trình bày số liệu thống kê về tuổi của các loài động vật, nhưng theo ghi nhận của các nhà cổ sinh vật học trong quá trình chỉnh lý về mức độ mọc răng, độ mòn răng và mức độ liền của đầu khớp xương thì bộ sưu tập xương trâu bò ở khu di tích phần lớn là thuộc những cá thể sắp trưởng thành và trưởng thành, rất hiếm cá thể già. Trái lại, các mẫu xương của lợn tìm được ở đây, phần nhiều là các cá thể non hay lợn sữa, chỉ có một số mẫu vật được xác định là lợn rừng có tuổi rất già (Nguyễn Anh Tuấn 2009). Điều này cho thấy, những con vật làm thực phẩm trong Hoàng cung đều được lựa chọn kĩ lưỡng, là những cá thể cung cấp thịt ngon nhất và nhiều chất dinh dưỡng nhất. Còn những cá thể già, có thể chúng được dùng để phục vụ cho việc giải trí trong Hoàng cung như tạo các cuộc đấu giữa những con lợn rừng chăng?

Ngoài ra, trong nhóm động vật chiếm đa số có mặt của loài ngựa, loài này không phải là loài động vật bản địa và không phải là loài động vật hoang dã của Việt Nam, có nhiều ý kiến cho rằng chúng được di nhập vào nước ta theo những cuộc xâm lăng của giặc phương Bắc. Có thể thấy ngựa là một loại động vật quý, biểu trưng cho quyền lực của chủ nhân. Ngựa đã được nuôi dưỡng phổ biến trong khu vực Hoàng thành, không những vậy, còn có thể được chăm sóc chu đáo cả với những cá thể đã chết, thể hiện sự gắn bó và trân trọng về mặt tâm linh giữa chúng với con người. Tại khu vực xây dựng Nhà Quốc hội, 1 bộ xương ngựa (BĐ08.E14.MO.057) còn khá nguyên vẹn được tìm thấy trong hố khai quật E14.L11 với tư thế nằm nghiêng, hai chân co, dựa vào vị trí các đốt sống cổ thì phần đầu cao hơn thân như tư thế của ngựa lúc còn sống đang nằm nghỉ. Hiện tượng này đưa ra giả thuyết rằng, cá thể ngựa này có phải đã được chủ nhân của nó mai táng cẩn thận sau khi chết? Hay nó được sử dụng trong nghi thức tế lễ nào đó dưới thời Đinh - Tiền Lê, khi đó khu vực này là Kinh sư của Đại Việt. Tuy nhiên, ngoài một mộ ngựa này, cũng phải đề cập đến rất nhiều mẫu xương ngựa khác có dấu vết chặt hoặc bị cưa đã được tìm thấy ở đây. Điều này chứng tỏ ngựa cũng đã từng được sử dụng như một nguồn thức ăn yêu thích hay một loại dược liệu, ví dụ như theo quan niệm của người xưa thì cao ngựa, đặc biệt là cao ngựa bạch, là một trong những loại thuốc quý hiếm.

Với nhóm vỏ nhuyễn thể, nhìn vào biểu đồ 2 dễ dàng nhận thấy chiếm đại đa số là nhóm vỏ nhuyễn thể thuộc lớp hai mảnh vỏ gồm các loài sò, hến sông, ngao, vọp, hàu ... với tổng tỉ lệ là 90,02%. Trong đó, những sinh vật biển như nhóm họ sò chiếm số lượng tới 50,12%, đặc biệt trong đó sò huyết có số lượng lớn nhất chiếm tới 33,16% tổng số lượng mẫu và nó có mặt ở hầu khắp khu vực khai quật. Nhiều vỏ sò có vết cháy có thể do được nướng trên lửa hoặc than. Nhóm có số lượng lớn kế tiếp là nhóm họ hến với vọp chiếm 12,05%, sau đó là nhóm họ hàu với hàu cửa sông chiếm tới 10,47%. Đại đa số các vỏ tìm thấy thuộc những nhóm này đều là vỏ có kích thước lớn hoặc rất lớn. Như vậy, có thể thấy những loài nhuyễn thể nêu trên đều là những loại hải sản ngon, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng có giá trị cho cơ thể và ắt hẳn chúng đã rất được ưa thích trong Hoàng cung. Trong nhóm chân bụng, nhóm có số lượng lớn nhất phải kể đến là nhóm họ ốc vặn gồm hai loài ốc vặn và ốc đá, chiếm tỉ lệ tương ứng là 6,15% và 2,07%. Điều đặc biệt là trong số nhóm chân bụng, đã tìm thấy một họ ốc biển là họ Fasciolariidae với loại ốc Nicobe, loại ốc này tương đối đẹp nhưng chúng cũng chỉ có số lượng rất ít.

Như vậy, điểm lại những loài động vật thân mềm được ưa thích sử dụng trong Hoàng cung Thăng Long gồm có sò huyết, hàu, vọp, ốc vặn, ốc đá... Đại đa số chúng có nguồn gốc từ vùng nuớc lợ hoặc ven triều. Điều đó đặt ra cho chúng ta một nghi vấn rằng, liệu những nhóm động vật này được người xưa mang tới khu vực Hoàng thành như những cống phẩm dâng lên nhà vua hay đó là dấu hiệu cho thấy ở đây đã tồn tại một môi trường sinh thái nước lợ, vùng triều, nghĩa là bờ biển xưa kia rất gần khu di tích này.

 
 
Hình 5 - 6: Di tích mộ ngựa thời Đinh - Tiền Lê, thế kỷ 10. Tìm thấy tại khu vực Nhà Quốc hội năm 2008 - 2009 (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Nhóm thứ hai có số lượng ít hơn hẳn. Nhóm di cốt động vật có xương sống chỉ chiếm nhỏ hơn 13,89% số lượng xương thu thập được, gồm các loài cá 0,11%, baba 0,02%, hươu nai 4,12%, chó 5,15%, mèo 1,03%, voi 0,66%, gấu 0,85%, rùa 0,08%, khỉ 0,09% và 0,34% chim, 0,71% gà. Tại sao số lượng mẫu xương của những loài này lại có sự chênh lệch lớn đến vậy so với nhóm trâu bò, lợn, ngựa?. Đây là một nghi vấn đã được nhà cổ sinh vật học Nguyễn Anh Tuấn đưa ra một số lý giải trong “Báo cáo đề tài xử lý nghiên cứu, bảo quản các di cốt động vật” như sau: Thứ nhất, một số loài động vật nhỏ như những loài chim, hay gia cầm như gà, vịt… thường được sử dụng làm thức ăn, sau bữa ăn của con người thường được sử dụng tiếp tục làm thức ăn cho vật nuôi như chó, mèo; hơn nữa đặc điểm cấu tạo của xương chim rỗng nên mềm hơn xương thú, thường bị cắn vỡ hoặc dễ bị phân hủy hết bởi vậy xương chim thường ít tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ; Thứ hai, các loài chó, mèo là những vật nuôi quen thuộc và rất hữu dụng trong việc phòng chống sinh vật có hại, hay trông coi nhà cửa, tuy chúng cũng vẫn bị giết thịt nhưng không phải là nguồn dinh dưỡng thường xuyên và phổ biến. Riêng với loài dê, trong các tài liệu sử học chúng được ghi chép như một nguồn thức ăn khá quan trọng và có thể sử dụng như sản phẩm để cống nạp biếu xén nhưng tại di tích Hoàng thành, ở tất cả những địa điểm đã được khai quật, loài này đều chỉ chiếm số lượng rất ít. Đây là điều khó lí giải, liệu có phải do thịt dê ít được tầng lớp quý tộc trong Hoàng cung ưa chuộng hay còn những nguyên nhân nào khác nữa (Nguyễn Anh Tuấn 2009).

Ngoài ra, khi nghiên cứu những tàn tích thức ăn này, điều thú vị là có rất nhiều xương động vật đã được “tái sử dụng” tài tình như những mảnh xương bả vai to được dùng như vật gom rác, hay những mảnh xương sườn được chế tác thành những con dao... Đáng lưu ý là những công cụ này được chế tạo hết sức cẩn thận và tinh xảo.

Tại khu vực ở giữa khu B, cuộc khai quật năm 2003 cũng đã tìm thấy một khoảng nền sân rộng, bằng phẳng được đắp bằng đất sét vàng, có niên đại thời Lý mà điểm đáng lưu ý là trên bề mặt của nền sân này người ta dùng các vỏ sò huyết để xếp úp xuống thành hàng rất cẩn thận như thể tạo thành một khoảng sân lát vỏ sò độc đáo. Đây là hiện tượng rất đặc biệt, chưa có lời giải thích rõ ràng, cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để đưa ra lời giải thích cho hiện tượng kì thú này.

II. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

Với lượng mẫu động vật vô cùng lớn và phong phú về chủng loại tìm được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long là một trong những nguồn tư liệu vô cùng giá trị, góp phần cung cấp những nguồn thông tin vô cùng quý báu để từ đó từng bước hiểu rõ hơn về đời sống sinh hoạt trong Hoàng cung cũng như môi truờng sống thời cổ xưa.

Tuy nhiên, do điều kiện khách quan cũng như chuyên môn còn hạn chế, số lượng mẫu này mới chỉ được nghiên cứu ở mức sơ bộ và khái quát. Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần phải đầu tư nhiều thời gian tâm sức để tiếp tục thực hiện công tác nghiên cứu, phân loại chỉnh lý và lập hồ sơ khoa học về di cốt động vật của khu di tích, góp phần lý giải xác đáng hơn cho những vấn đề khoa học đặt ra cũng như giải mã những vấn đề liên quan đến đời sống vật chất, đời sống tinh thần và làm sáng tỏ những ghi chép trong sử sách. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu chuyên sâu về loại hình di cốt động vật tìm được tại di tích Hoàng thành Thăng Long cần được đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác nhau để phục dựng lại lịch sử các mối quan hệ giữa người với động vật, các tập tục cung đình qua các triều đại trong kinh thành Thăng Long xưa.

Ngoài ra, cũng cần có những nghiên cứu, tìm hiểu về xuất xứ của các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật được sử dụng trong Hoàng cung. Chúng được nuôi duỡng ngay tại trong Hoàng thành hay được dâng nạp từ các vùng miền khác? Với một số lượng vỏ nhuyển thể có nguồn gốc từ vùng nước lợ ven triều, cần có những  tìm hiểu sâu hơn về môi trường địa lý cổ để giải thích vấn đề chúng có được từ vùng nào, từ đó hình dung mối giao lưu thương mại giữa các vùng miền trong đất nước hay với các nước khác trên thế giới.

Và mục đích cuối cùng cho những nghiên cứu này là có thể trưng bày, quảng bá cho du khách cũng như nhân dân trong nước được chiêm ngưỡng và hiểu rõ hơn về lịch sử, về lối sống sinh hoạt của cha ông ta nói chung và của các vua chúa, quan thần sống trong Hoàng thành Thăng Long nói riêng. Tuy nhiên, việc trưng bày tàn tích thức ăn trong các bảo tàng là rất hiếm hoi. Do vậy, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, nắm rõ các vấn đề và tiến tới việc trưng bày phục vụ công chúng là việc làm rất cần thiết và hữu ích. Nhưng điều đáng lo ngại với những mẫu vật động vật là rất dễ bị xâm hại bởi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm... cũng như các yếu tố hữu sinh như mối mọt, chuột hay các vi sinh vật có hại. Vì vậy, để có thể phục vụ cho mục đích quảng bá, trưng bày cần phải nghiên cứu xây dựng kế hoạch và biện pháp bảo quản, giữ gìn những tài liệu quý giá này ngay tại hiện trường từ khi phát lộ cũng như trong kho bảo quản. Nghiên cứu khả năng gây hại của các loại vi sinh vật, mối mọt, côn trùng, chuột... để tối thiểu hóa việc tác động xấu đến các mẫu vật lưu trữ, bảo quản lâu dài. Và cần tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ chuyên môn và hợp tác liên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu và bảo quản xương động vật, vỏ nhuyễn thể.

   

Hình 7 - 8: Vỏ hàu lớn tìm thấy trong tầng văn hóa thời kỳ Tiền Thăng Long, thế kỷ 9 - 10.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   
Hình 9 - 10: Lớp vỏ sò xếp úp trên nền đất trong lòng kiến trúc thời Lý ở khu B, khu di tích Hoàng thành Thăng Long. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

III. LỜI KẾT

Những kết quả nghiên cứu ban đầu về các loại hình di cốt động vật và vỏ nhuyễn thể tìm được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long nêu trên mặc dù mới mang tính sơ khởi nhưng đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề về dinh dưỡng hay văn hóa ẩm thực trong khu vực Hoàng cung Thăng Long xưa. Ngoài những đồ dùng vật dụng trong đời sống hàng ngày trong Hoàng cung Thăng Long đã từng được đề cập trong nhiều công trình, nhưng có lẽ đây là những tư liệu đầu tiên được công bố đến công chúng với những hình ảnh rõ ràng và sinh động nhất có thể về nguồn thức ăn được sử dụng trong Hoàng cung Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử dựa trên những bằng chứng của khảo cổ học.

Mặc dù đang trong quá trình nghiên cứu, phân loại chỉnh lý và lập hồ sơ khoa học, nhưng kết quả nghiên cứu ban đầu về các loại hình di cốt động vật khai quật được tại khu di tích đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề khoa học lý thú và hấp dẫn. Chẳng hạn như có hay không sự khác biệt hay khoảng cách giữa tầng lớp cao sống trong Hoàng cung Thăng Long với các tầng lớp khác trong xã hội đương thời, hay mức độ phân cấp trong Hoàng cung Thăng Long xưa như thế nào? Đây vẫn là những vấn đề chưa được làm sáng rõ, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu, tỉ mỉ thì mới có thể tìm được lời giải đáp. Và thực tế cho thấy, các mẫu di cốt động vật ở đây còn có thể được sử dụng như những mẫu so sánh và nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm phát triển, tiến hóa của loài sinh vật cũng như đặc điểm sinh thái của từng nhóm động vật hay những thông tin về giới, tuổi, những đặc điểm bệnh tật của mỗi quần thể loài (Vũ Thế Long 2007). Mặt khác, nó minh chứng cho khả năng thuần hóa, chăm sóc động vật, hay mối quan hệ ứng xử giữa con người và giới động vật với môi trường. Hay những nghiên cứu chuyên sâu hơn về đặc điểm cư trú của cư dân ở đây cùng những loài vật nuôi qua các thời kỳ lịch sử. Đó là những vấn đề lịch sử đầy thú vị cần được nghiên cứu làm rõ bởi các nhà nghiên cứu chuyên môn.     

 

            TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thái Trần Bái 2010: Động vật học không xương sống, Nxb. Giáo dục;
  2. Lê Vũ Khôi 2009: Động vật học có xương sống, Nxb. Giáo dục;
  3. Vũ Thế Long và cs 2007: Báo cáo đề tài: “Nghiên cứu, bảo quản di cốt động vật trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long, 18 Hoàng Diệu, Hà Nội” (Giai đoạn 1), Tư liệu Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành;
  4. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Ngọc Cường 2003: Thành phần loài của họ ốc nhồi-Ampullariidae Gray, 1824 ở Việt Nam, Sinh học, tập 25, số 4, 12/2003;
  5. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Dương Ngọc Cường 2004: Họ ốc vặn (Viviparidae-Gastropoda) ở Việt Nam, Sinh học, tập 2, số 2, 6/2004;
  6. Nguyễn Anh Tuấn 2009: Báo cáo đề tài "Xử lý nghiên cứu, bảo quản các di cốt động vật khu di tích Hoàng thành Thăng Long", Tư liệu Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành;
  7. Bùi Minh Trí, Nguyễn Đình Chiến 2004: Hội thảo khoa học môi trường cổ Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội - Tiểu ban V, Viện Khảo cổ học, Hà Nội.

Vương Thị Huyền

(Thông báo Khoa học năm 2014)