Nghiên cứu bảo tồn Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Những bài học từ thực tiễn

07/05/2016

Khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu được tiến hành khai quật từ những năm 2002-2004 trên phạm vi rộng lớn hơn 19.000m2, được chia thành 4 khu có ký hiệu khảo cổ là A, B, C, D. Kết quả khai quật đã làm xuất lộ nhiều loại hình di tích kiến trúc cùng hàng triệu di vật, minh chứng sinh động về lịch sử tiếp nối liên tục qua các thời kỳ, từ thời Tiền Thăng Long (Đại La, Đinh - Tiền Lê) đến thời kỳ Thăng Long (Lý-Trần-Lê). Với những giá trị lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật đặc sắc và độc đáo, khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào mùa Thu 2010, đúng dịp kỷ niệm Kinh đô Thăng Long tròn 1000 năm tuổi. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nghiên cứu của khảo cổ học Việt Nam cũng như của khu di tích.

GIỚI THIỆU CHUNG

Khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu được tiến hành khai quật từ những năm 2002-2004 trên phạm vi rộng lớn hơn 19.000m2, được chia thành 4 khu có ký hiệu khảo cổ là A, B, C, D. Kết quả khai quật đã làm xuất lộ nhiều loại hình di tích kiến trúc cùng hàng triệu di vật, minh chứng sinh động về lịch sử tiếp nối liên tục qua các thời kỳ, từ thời Tiền Thăng Long (Đại La, Đinh - Tiền Lê) đến thời kỳ Thăng Long (Lý-Trần-Lê). Với những giá trị lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật đặc sắc và độc đáo, khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào mùa Thu 2010, đúng dịp kỷ niệm Kinh đô Thăng Long tròn 1000 năm tuổi. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nghiên cứu của khảo cổ học Việt Nam cũng như của khu di tích.

Với tầm quan trọng mang tính quốc tế như vậy, công việc nghiên cứu, đánh giá tình trạng bảo tồn, đánh giá những tác động của môi trường lên di tích là rất quan trọng. Đây là những cơ sở khoa học cần thiết cho việc đề xuất những phương pháp bảo tồn khu di tích. Tuy nhiên, công tác bảo tồn nguyên trạng di tích khảo cổ sau khai quật phục vụ ngay cho việc tiếp tục nghiên cứu và hướng tới là trưng bày, giới thiệu quảng bá đến công chúng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là vấn đề có rất nhiều khó khăn và thách thức. Bởi di tích khảo cổ vốn rất mong manh, không tái sinh, nó đã từng bị chôn vùi dưới lòng đất trong nhiều thế kỷ trước khi các nhà khoa học chạm nhát cuốc khai quật và quá trình khai quật làm xuất lộ di tích cũng là quá trình tác động đến sự phá hủy di tích. Do đó, bảo tồn di tích khảo cổ học luôn là vấn đề hết sức phức tạp, đỏi hỏi phải trình độ chuyên môn sâu về bảo tồn, cần có thời gian nghiên cứu, đánh giá đặc điểm di tích, đánh giá tác động của môi trường và con người trên nhiều phương diện, trên cơ sở đó mới có thể đưa ra những đề xuất về phương pháp bảo tồn tối ưu và hiệu quả.

Khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long đang được bảo tồn nguyên trạng tại chỗ từ khi chúng xuất lộ cho đến nay, trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nhiệt và chưa có đủ điều kiện cũng như khả năng về bảo tồn, do đó đã và đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ xâm hại đến di tích.

Từ thực tiễn trong công tác nghiên cứu và xử lý bảo tồn khu di tích trong 10 năm qua, bài viết này sẽ cung cấp những thông tin, những cơ sở khoa học về công tác nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường và con người cũng như thực trạng bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long với hy vọng sẽ góp phần vào việc đề xuất phương án bảo tồn khu di tích trong tương lai.

 

Hình 1: Tình trạng khu di tích Hoàng thành Thăng Long trước khi xây dựng nhà mái che năm 2005

Ảnh: Bùi Minh Trí

 

 

I. KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG VÀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU BẢO TỒN

Lịch sử bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long có thể tính từ dấu mốc năm 2004 sau khi khu di tích này đã được xuất lộ tổng thể. Tuy nhiên, ngay trong quá trình khai quật với thời gian kéo dài và thường xuyên phải đối mặt với nắng, mưa nên các nhà khảo cổ học cũng đã có những biện pháp che phủ bằng vải bạt. Đây được xem như là sự sơ khởi của quá trình bảo tồn đối với đặc thù di tích khảo cổ. Và kể từ đó đến nay, công tác bảo tồn khu di tích có thể được xem xét đánh giá qua các giai đoạn sau đây.

1. Giai đoạn trước năm 2004

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long được chính thức bắt đầu khai quật từ giữa tháng 12/2002 với mục đích là khai quật thăm dò nhằm giải phóng nhanh mặt bằng để phục vụ việc xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình (mới). Do vậy, công việc khai quật khi đó chịu rất nhiều sức ép về thời gian và do phải tập trung khai quật nên chưa có phương án về bảo tồn.

Sau khi khu di tích phát hiện được nhiều di tích, di vật cùng với những tầng văn hóa của các thời kỳ nằm chồng xếp lên nhau, minh chứng sinh động và đầy sức thuyết phục về giá trị của khu di tích; đây là một bộ phận quan trọng, không những nằm trong Hoàng thành mà còn nằm trong Cấm thành hay Cung thành tức là trung tâm của Hoàng thành Thăng Long; công tác bảo tồn lúc đó gọi là bảo tồn cấp thiết bắt đầu được quan tâm.

Tuy nhiên, các hoạt động bảo tồn di tích trong giai đoạn này còn mang tính sơ khởi, chủ yếu là cố gắng che phủ bạt và bơm tiêu thoát nước nhằm bảo vệ, giữ nguyên hiện trạng di tích đã xuất lộ để một mặt tiếp tục khai quật, nghiên cứu khảo cổ học; một mặt hướng tới những đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về phương án được giữ lại bảo tồn một phần khu di tích đặc biệt quan trọng này (Hình 1).

2. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

2.1. Các hoạt động hợp tác bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long

Nhận thức được tầm quan trọng của những kết quả khai quật khảo cổ học của Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, tháng 4/2004 Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tạm dừng khai quật để bắt đầu tập trung vào việc đề xuất các giải pháp nghiên cứu, đánh giá giá trị và bảo vệ, bảo tồn tạm thời, cấp thiết khu di tích.

Tháng 8/2004, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc nhằm đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Tham dự hội thảo có gần 200 nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khoa học xã hội và một số chuyên ngành khoa học tự nhiên đến từ các viện, các trường đại học, các cơ quan khoa học Trung ương và Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế. Hội thảo khoa học này đã thành lập 6 Tiểu ban nghiên cứu các chuyên đề khác nhau về di tích, di vật, trong đó có Tiểu ban VI thực hiện chuyên đề “Nghiên cứu đề xuất phương án bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long". Hội thảo khoa học đã nhất trí kiến nghị bảo tồn toàn bộ khu di tích bao gồm phần đã phát lộ và cả phần đang được bảo tồn trong lòng đất. Trong kiến nghị của Tiểu ban VI khi đó cũng đã đề cập đến việc đề nghị xếp hạng di tích quốc gia, tiến tới đề nghị khu di tích được ghi vào danh mục di sản thế giới.

Tiếp theo đó, ngày 11/08/2004, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội tổ chức Hội nghị tư vấn quốc tế đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Thông qua hội thảo, các nhà chuyên môn cũng đã tranh thủ sự tư vấn về bảo tồn, bảo tàng và xây dựng các chương trình hợp tác nghiên cứu, bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Nhiều nhà khoa học và các chuyên gia bảo tồn quốc tế cho thấy, nếu Việt Nam biết liên kết các ngành khoa học và các cơ quan chức năng trong nước, biết tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế thì khó khăn trong việc bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long như hiện tại sẽ từng bước vượt qua, đồng thời sẽ mở ra những cơ hội mới trong việc phát triển nền bảo tồn học tại Việt Nam, hướng tới xây dựng ngành bảo tồn di tích khảo cổ học cùng với việc đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn về bảo tồn cho cán bộ của Việt Nam trong tương lai.

Như vậy có thể nói, ngay từ năm 2004, nhận thức rõ giá trị và tầm quan trọng đặc biệt của khu di tích, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã rất chủ động trong việc tổ chức nghiên cứu đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn toàn bộ khu di tích. Trên cơ sở tranh thủ những ý kiến ủng hộ của các nhà khoa học trong và ngoài nước và được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam khi đó đã nhanh chóng đề xuất ngay phương án là cần phải xây dựng nhà mái che để bảo tồn khu di tích đã xuất lộ.

Một trong những hoạt động bảo tồn khu di tích đã được tiến hành sau đó là vào tháng 5/2005, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã khẩn trương triển khai xây dựng nhà mái che tạm thời bảo vệ khu di tích. Công trình nhà mái che này có kết cấu khung sắt kết hợp với litô che, mái lợp tấm nhựa, có niên hạn sử dụng 3 năm, được thiết kế dựa trên nguyên tắc là việc xây dựng các trụ móng phải đảm bảo không làm xâm hại đến di tích, di vật bên dưới và giải quyết triệt để hệ thống tiêu thoát nước mưa cho toàn bộ di tích tại các khu A, B và khu D[1].

Vấn đề xử lý nước ngang và nước ngầm là khó khăn và thách thức lớn nhất của việc bảo quản, bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu khi đó. Kết quả khảo sát nước ngầm phối hợp với Viện Địa chất thực hiện tại khu di tích cho thấy ở độ sâu 3-4m không có mạch nước ngầm mà chủ yếu là nước ngang. Mạch nước ngầm chủ yếu xuất hiện ở tầng đất sâu từ 5-6m trở xuống. Sau thời gian phối hợp nghiên cứu liên ngành với các viện nghiên cứu đánh giá về sự tác động của môi trường (nắng, mưa, nhiệt độ, độ ẩm, nước ngang, nước ngầm, rêu, cỏ), bằng thực tế và kinh nghiệm dân gian, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, trực tiếp là Ban Chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long, đã đưa ra phương án xử lý nước ngang thành công bằng cách tạo hệ thống liên hoàn các đường rãnh thoát nước ở những khu vực xung yếu nằm tiếp giáp các vách hố, nơi thường xuyên có nước sinh hoạt chảy vào lòng hố khai quật, thu nước về các hố ga và bơm cưỡng bức vào hệ thống thoát nước của Thành phố. Từ đây, bề mặt khu di tích đã được bảo vệ an toàn, khô ráo, không còn hiện tượng nước ngang làm ẩm ướt như trước đây. Đồng thời, sau khi giải quyết được nước ngang, giữ di tích khô ráo và có độ ẩm vừa phải thì vấn đề rêu, cỏ cũng đã từng bước được khống chế.

Những hoạt động bảo tồn khu di tích, nhất là tại khu A-B đã được đẩy mạnh từ khi có chương trình hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản vào cuối năm 2006. Và đặc biệt, trước và sau thời điểm tổ chức Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, để phục vụ việc mở cửa cho công chúng vào tham quan khu di tích, công tác bảo tồn đã được Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam rất chú trọng đầu tư. Công tác xử lý tiêu thoát nước tại khu A-B đã được tiến hành đồng bộ trong thời điểm này cùng với việc lấp cát bảo tồn và tôn tạo mặt bằng di tích tại các hố ở khu A-B.

Đáng chú ý hơn là, từ sau khi khu di tích được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, hàng loạt các dự án hợp tác với quốc tế trong việc điều tra, nghiên cứu và đề xuất phương án bảo tồn khu di tích đã có những thành quả rất quan trọng. Các chương trình hợp tác về bảo tồn với các chuyên gia bảo tồn Nhật Bản và Bỉ giai đoạn 3 năm 2010-2012 đã được thực hiện. Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã ký chương trình hợp tác với Cơ quan Khảo cổ vùng Wallonie (Bỉ) triển khai Dự án: “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long” giai đoạn 2010-2012; tiếp theo đó là với các chuyên gia Nhật Bản thông qua hoạt động của Dự án Quỹ tín thác UNESCO (JFIT 536VIE4001): “Bảo tồn khu Di sản Văn hóa Thăng Long – Hà Nội”. Hoạt động bảo tồn giai đoạn này diễn ra khá sôi động, được đánh dấu bằng việc lắp đặt các thiết bị quan trắc (do Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đầu tư và phía Nhật, Bỉ tài trợ) nhằm thu thập thông tin, dữ liệu về tình trạng bảo tồn di tích, làm cơ sở cho các hoạt động bảo tồn, phục dựng và xây dựng bảo tàng tại chỗ trong tương lai.

Tham gia phối hợp triển khai thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế về bảo tồn tại khu di tích nói trên là các cán bộ của Ban Chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long khi đó thuộc Viện Khảo cổ học và nhóm cán bộ Phòng Khoa học bảo tồn của Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành. Nhóm cán bộ trẻ của Việt Nam đã tham gia tích cực ngay từ đầu, được tập huấn về kỹ năng, kỹ thuật lắp đặt thiết bị, phương pháp thu thập dữ liệu và xử lý phân tích dữ liệu. Trong thời gian thực hiện chương trình, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia quốc tế, các cán bộ Việt Nam đã từng bước chủ động triển khai các hoạt động thu thập, xử lý dữ liệu từ các thiết bị quan trắc, thực hiện các báo cáo đánh giá tình trạng bảo tồn di tích, nghiên cứu đề xuất các phương án bảo tồn khu di tích dựa trên kết quả phân tích môi trường thu được từ các thiết bị quan trắc. Cũng trong quá trình hợp tác, các chuyên gia bảo tồn quốc tế đã khuyến nghị rằng, việc bảo tồn di tích khảo cổ cần được thực hiện trên cơ sở khoa học với những hiểu biết sâu sắc và đầy đủ nhất về đặc điểm cấu tạo di tích, không nên duy trì công tác nạo/cạo rêu cỏ trên bề mặt di tích như đã và đang làm, vì chính hành động này đang trực tiếp tham gia vào việc làm biến dạng và hệ quả sẽ dẫn tới là phá hủy di tích.

Từ kinh nghiệm bảo tồn tại di tích, sau nhiều năm bảo tồn thí điểm bằng nhiều biện pháp, năm 2008-2009, giải pháp bảo tồn tổng thể khu di tích đã được đề xuất với phương án là phủ kín bề mặt di tích ở những vị trí khó bảo tồn nhất bằng hệ thống bạt kín, tức là loại bạt xanh dày, không thấm nước, không hấp thụ ánh sáng. Sau một thời gian thí điểm, giải pháp mang tính cấp thiết này đã được các chuyên gia tư vấn Nhật Bản khảo sát đánh giá là rất sáng tạo và hiệu quả bởi nó không những đã hạn chế tối đa được sự phát triển của rêu, cỏ mà còn giữ được độ ẩm cần thiết cho đất. Tuy nhiên, khi hạn chế được rêu cỏ và giữ được độ ẩm cho đất, vấn đề bảo tồn khu di tích lại phải đối mặt với những hiểm họa mới là sự muối hóa trên toàn bộ bề mặt di tích, nhất là đối với những khu vực có nhiều gạch, ngói.

Trong khi một loạt vấn đề về bảo tồn cấp thiết đang được đặt ra nhưng trước yêu cầu về việc quản lý khu di sản, tháng 12 năm 2012, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã chính thức bàn giao toàn bộ khu A-B cho UBND Thành phố Hà Nội quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị. Và, ngày 27 tháng 4 năm 2014, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cũng đã chính thức bàn giao khu D, khu vực cuối cùng của khu di tích cho UBND Thành phố Hà Nội quản lý. Từ đây, công tác bảo tồn khu di tích thuộc trách nhiệm của Hà Nội.

Hình 2-3: Máy quan trắc và thiết bị do Nhật Bản lắp đặt tại khu di tích để theo dõi tình trạng bảo tồn.

Ảnh: Nguyễn Thị Anh Đào

   

Hình 4 - 5: Cán bộ bảo tồn của Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành đang lấy dữ liệu về bảo tồn tại khu A - B.

Ảnh: Lại Hữu Đỉnh

   

2.2. Tình trạng di tích qua kết quả quan trắc thiết bị bảo tồn

Như trên đã nêu, 2010-2012, công tác bảo tồn khu di tích diễn ra khá sôi động nhờ có các chương trình hợp tác quốc tế. Một trong những hoạt động quan trọng của chương trình này là lắp đặt hệ thống thiết bị về bảo tồn tại các hố khai quật nhằm thu thập dữ liệu để đánh giá về tình trạng bảo tồn di tích. Theo đó, các thiết bị quan trắc đã được lựa chọn lắp đặt ở 3 khu A, B và D, trong đó các thiết bị của Nhật Bản chủ yếu lắp đặt tại khu D, đặc biệt phạm vi hố D4, 5, 6, còn các thiết bị của Bỉ lắp đặt ở cả 3 khu A, B và D. Thiết bị quan trắc của Nhật Bản lắp đặt tại khu D bao gồm: trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời nhằm quan trắc các thông số môi trường tại khu di tích như nhiệt độ, độ ẩm không khí, hướng gió, tốc độ gió, lượng mưa. Bên cạnh đó, còn có các thiết bị khác lắp đặt dưới khu vực hố khai quật D4, 5, 6, trong đó chủ yếu là D4 nhằm quan trắc, đo đạc và theo dõi các chỉ số dao động khu vực dưới hố khai quật đang bảo tồn như thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm đất, không khí, mực nước ngầm và áp suất hơi nước,… Các thiết bị quan trắc do Bỉ tài trợ được lắp đặt ở cả 3 khu A, B và khu D (D4, 5, 6) bao gồm thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm, tình trạng nứt nẻ đất, ánh sáng, mực nước ngầm…

Sự phối hợp tham gia từ phía cán bộ bảo tồn của Việt Nam với các chuyên gia bảo tồn phía Nhật, Bỉ đó là việc học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng sử dụng các loại thiết bị, máy móc và xử lý các số liệu thu thập được từ các thiết bị bảo tồn lắp đặt tại di tích. Đây được coi là những hoạt động bảo tồn giá trị nhất áp dụng trên di tích, các dữ liệu thu thập được sẽ là tiền đề, cơ sở cho việc đánh giá và đưa ra các phương án bảo tồn hiệu quả nhằm phát huy giá trị của khu di tích (Hình 4-5).

Với những kết quả thu thập được từ thực tế ghi chép các hiện tượng diễn ra trên di tích cùng với những dữ liệu từ các thiết bị máy móc quan trắc, nhóm cán bộ bảo tồn của Việt Nam dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia bảo tồn Nhật và Bỉ đã có thể độc lập thực hiện được công việc tổng hợp, xử lý các dữ liệu đó thành các dạng đồ thị, biểu đồ chi tiết phản ánh tình trạng, đặc trưng cũng như sự biến đổi, sự tác động của môi trường tới di tích.

Dựa trên các dữ liệu quan trắc được từ các thiết bị, phần viết dưới đây chúng tôi sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu, đánh giá cơ bản, chủ yếu về thực trạng bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong thời gian qua.

a) Sự dao động mực nước ngầm

Chỉ số này được quan trắc dựa trên thiết bị thước đo mực nước dao động tại các giếng nước ở khu A và B của di tích. Các số liệu này được đo hàng ngày và thể hiện trên đồ thị so sánh với lượng mưa hàng năm từ số liệu đo từ trạm khí tượng thủy văn Nhật Bản và dòng chảy của sông Hồng. Từ kết quả đo được nhìn chung mực nước ngầm tại di tích có sự biến động theo một chu kỳ tương đối ổn định, phù hợp với sự tăng giảm lượng mưa hàng năm. Tuy nhiên, nhìn trên mặt bằng chung giữa khu A và khu B của di tích thì có thể thấy các giếng tại khu A ổn định về mực nước hơn các giếng tại khu B. Mực nước giếng tại khu B dao động tăng nhanh đột ngột sau những đợt mưa lớn kéo dài, còn các giếng tại khu A mực nước thay đổi không đáng kể, không phụ thuộc nhiều vào lượng mưa và dòng chảy của các sông quanh khu vực di tích (xem Đồ thị 1-2).

 

Hình 6 - 7: Hiện tượng mối làm tổ và muối hóa trên di vật tại khu A-B.

Ảnh: Nguyễn Thị Anh Đào

 
Hình 8 - 9: Hiện tượng muối hóa trong thành giếng nước thời Trần ở khu A và hiện tượng rêu, bèo tấm trong lòng giếng nước ở khu B. (Ảnh: Nguyễn Thị Anh Đào)
   

b) Sự thay đổi về độ ẩm đất

Về cơ bản, sự biến động thay đổi độ ẩm đất tại khu vực di tích là không đáng kể giữa các mùa trong năm, nó phụ thuộc nhiều vào địa tầng di tích tại khu vực cài đặt các điểm đo và tác động của con người trong các hoạt động nhằm bảo tồn di tích. Kết quả đo cho ta một hiệu ứng vô cùng giá trị, độ ẩm bề mặt di tích khá ổn định tại các vị trí được phủ bạt bảo tồn hay các thời điểm phun nước làm ẩm bề mặt di tích. Ngược lại, tại các điểm nhận thấy sự biến động bất thường độ ẩm giữa các tầng đất hoặc độ ẩm tầng đất bề mặt không đảm bảo thì có thể giải thích được dựa vào địa tầng đất tại khu vực đó qua các nghiên cứu địa chất hoặc đó là những vị trí di tích đang để lộ thiên, không được phủ bạt giữ ẩm mà chúng ta có thể quan sát được bằng mắt thường.

Độ ẩm tối thiểu đảm bảo duy trì bề mặt di tích ở tình trạng bảo tồn tốt nhất là > 35%. Dựa trên tiêu chí này cùng với tư liệu ghi chép thực tế và các thông số từ các thiết bị đo khác để đánh giá và giải thích về tình trạng độ ẩm bề mặt ở từng vị trí và phạm vi cụ thể trên di tích.

Tại khu A, B và D lắp đặt  tất cả 50 điểm đo độ ẩm (khu A: 23 và khu B: 20, khu D: 07). Dựa trên số liệu đã được đồ thị hóa có thể thấy rằng tổng thể độ ẩm bề mặt di tích ở cả 3 khu về cơ bản không đạt tiêu chuẩn, chênh lệch khá cao và cơ bản không đáp ứng độ ẩm trung bình duy trì tình trạng ổn định của đất. Và thực tế kết quả đo cho thấy các điểm đo nằm trong khu vực di tích được bảo quản tạm thời bằng cách che phủ bạt lại có độ ẩm đất rất ổn định và hạn chế rất nhiều tình trạng khô, nứt nẻ, bốc hơi nước như các vị trí không phủ bạt. Điều đó khẳng định, trong thời điểm hiện tại chưa có biện pháp bảo tồn tốt nhất cho di tích thì lựa chọn phủ bạt giữ ẩm tạm thời bề mặt vẫn là phương án tối ưu (xem Đồ thị 3-4).

c) Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm không khí

Các thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm không khí ở 3 khu A, B và D đều tự động hóa nên kết quả thu được là khách quan và phản ánh đúng thực tế. Để có cơ sở so sánh, đánh giá một cách đầy đủ và chân thực nhất, chúng tôi đã sử dụng dữ liệu từ 2 thiết bị khác nhau nhưng cùng mục đích đo nhiệt độ, độ ẩm không khí là máy Rotronic (do VASS đầu tư lắp đặt) và máy Hobo do Nhật Bản tài trợ. Nhìn tổng quan có thể thấy rằng, nền nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng dần đều hàng năm và nhiệt độ dưới mái che di tích thấp hơn ngoài trời từ 0.10C-50C. Tuy nhiên, ở những thời điểm nắng nóng cao điểm của mùa hè (khoảng tháng 5,6,7) nhiệt độ có lúc lên tới 40-410C (xem Bảng 1-2; Biểu đồ 1-2).

Về độ ẩm không khí trung bình tại khu vực di tích rất cao (đều > 85%). Tuy nhiên, xét về chi tiết độ ẩm tối thiểu tại di tích vào nhiều thời điểm thì quá thấp so với quy định (dưới 34%), đó là vào giai đoạn nóng cao điểm vào mùa hè: tháng 4,5,6 và giai đoạn mùa hanh khô: tháng 11, 12 trong năm. Ngược lại, độ ẩm có lúc lên rất cao (đạt ngưỡng 100%) vào giai đoạn đầu năm, thời điểm của các trận mưa phùn kéo dài (vào các tháng 1,2,3) và giai đoạn mùa mưa cuối năm, thời điểm của các trận mưa lũ lớn diễn ra thường xuyên (vào tháng 7,8,9 trong năm) (Bảng 3; Biểu đồ 3).

Nhiệt độ-độ ẩm là một trong những nhân tố ảnh hưởng và tác động lớn đến di tích, nó thúc đẩy hoặc hạn chế tình trạng bốc hơi nước bề mặt gây ra các hiện tượng bề mặt khô, nứt nẻ (sa mạc hóa), hiện tượng muối hóa, rêu mốc và gạch bị bạc màu (Hình 6-9).

Di tích Hoàng thành Thăng Long hiện được bảo tồn theo phương pháp làm mái che lợp tôn nhựa và một phần được phủ bạt giữ ẩm bề mặt. Dựa theo đánh giá những dữ liệu trên, có thể thấy rằng, phương pháp bảo tồn hiện tại chỉ mang tính chất tạm thời, không mang lại hiệu quả rõ rệt cho việc duy trì sự tồn tại lâu dài của di tích. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại chưa thể xây dựng di tích thành một bảo tàng ngoài trời với các điều kiện cần và đủ về các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng... thì chúng ta cũng nên nghiên cứu một phương pháp tạm thời tối ưu nhất để gìn giữ di tích, hạn chế tối đa các nhân tố tự nhiên cũng như con người tác động xấu đến di tích. Chẳng hạn có thể hạn chế tình trạng bốc hơi nước bề mặt trong thời điểm nắng nóng và thời điểm hanh khô trong năm, nên duy trì phủ bạt nilon thường xuyên để giữ ẩm bề mặt và thay bằng lợp mái nhựa có thể lợp bằng tôn lạnh để duy trì ổn định nền nhiệt dưới di tích, hạn chế tình trạng bốc hơi nước.

Những kết quả phân tích đánh giá về tình trạng môi trường tác động đến việc bảo tồn khu di tích thu được từ các thiết bị quan trắc nêu trên là rất quan trọng. Nó không chỉ cung cấp những cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu bảo tồn và còn gợi mở đến những đề xuất cho các phương án xử lý bảo tồn tại khu di tích. Tuy nhiên, trong thực tiễn khu di tích đang đối mặt hàng ngày với tình trạng xuống cấp rất nhanh chóng, nếu không nghiên cứu đưa ra những giải pháp bảo tồn phù hợp, kịp thời, khu di tích sẽ ngày càng xuống cấp nhanh chóng hơn.

Mặt khác, để có những cơ sở lý giải cho các hiện tượng bất thường hay các hoạt động diễn ra trên di tích làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự biến động về số liệu được thể hiện trên các đồ thị, cần thiết phải có nhật ký ghi chép cụ thể về thời điểm diễn ra các hoạt động tác động lên di tích, các nhân tố về tự nhiên, con người tác động đến di tích cũng như tiến hành các thí điểm theo dõi tình trạng bảo tồn di tích theo định kỳ. Đây là những hoạt động rất thiết thực để tìm ra những giải pháp hiệu quả, phù hợp nhằm hạn chế sự xuống cấp nhanh chóng của khu di tích.

Trong phạm vi hoạt động đó, năm 2012, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành đã đưa ra sáng kiến là lựa chọn 17 điểm để làm các thí điểm về bảo tồn di tích tại khu C-D, gọi tắt là phương pháp TECO (Test Conservation). Phương pháp này được thiết lập nhằm theo dõi đánh giá tình trạng phát triển rêu cỏ, tình trạng sa mạc hóa và tình trạng sụt lún trên di tích, được quan sát và ghi chép theo định kỳ với các tiêu chí về bảo tồn của quốc tế.

Sau 2 năm thử nghiệm, phương pháp TECO đã thể hiện rõ nhiều tính ưu việt trong công tác nghiên cứu, đánh giá tình trạng bảo tồn, tình trạng xuống cấp của di tích qua từng mùa trong năm và qua từng năm. Và, nếu biết kết hợp với các dữ liệu về độ ẩm, nhiệt độ, không khí… phương pháp này sẽ phát huy nhiều tác dụng và đem lại nhiều nhận thức mới, khách quan, trung thực trong việc đề xuất các biện pháp bảo tồn khu di tích.

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẢO TỒN

1. Kết quả bước đầu trong hợp tác nghiên cứu bảo tồn

Từ sau quá trình khai quật từ 2004 đến nay, khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã trải qua nhiều hoạt động nghiên cứu, bảo tồn nhằm duy trì tình trạng ổn định nhất. Trong đó, thành công lớn nhất là các nhà khoa học đã minh chứng được những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di tích, kiến nghị bảo tồn được nguyên trạng khu A, B, C và khu D của di tích như sự hiện hữu hiện nay. Đây là môi trường nghiên cứu không giới hạn đối với các nhà chuyên môn, các nhà khoa học và “trường học” lịch sử sống động với công chúng, minh chứng thuyết phục cho bề dày lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Nhìn lại các hoạt động bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long từ khi bắt đầu cho đến nay, có thể tóm tắt lại như sau:

- Phối hợp nghiên cứu liên ngành với Viện Địa chất và các viện nghiên cứu khác nghiên cứu cấu tạo, đặc tính địa tầng khu vực khai quật khảo cổ. Kết quả dự án hợp tác này là xử lý  thành công triệt để hiện tượng nước ngang làm ẩm ướt bề mặt di tích, giữ bề mặt di tích khô ráo và có độ ẩm vừa phải, từ đó vấn đề rêu cỏ từng bước được khống chế.

- Triển khai xây dựng nhà mái che tạm thời bảo vệ di tích ở các khu A, B và D. Công trình nhà mái che có kết cấu khung sắt, kết hợp litô che, mái lợp tấm nhựa, giải quyết triệt để việc tiêu thoát nước mưa cho toàn bộ di tích.

- Thực hiện phủ bạt nilon bề mặt tích di tích bảo tồn ở cả 4 khu A, B, C, D, cả phạm vi di tích dưới mái che và di tích ngoài trời. Trong điều kiện hiện tại, phương pháp này hiện mang lại hiệu quả khá tích cực, đảm bảo duy trì độ ẩm cho bề mặt di tích, hạn chế tối đa tình trạng rêu cỏ, nấm mốc và vi khuẩn tấn công di tích và di vật bảo quản trong lòng di tích.

- Thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu bảo tồn, đó là các dự án hợp tác 3 năm với Bỉ và Nhật (2010-2012) trong việc khảo sát, quan trắc các thông số về môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, nước ngầm…), làm tiền đề và cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn sau này. Đây cũng là một trong những cơ sở căn bản cho mục tiêu lâu dài là xây dựng bảo tàng ngoài trời với những điều kiện cần và đủ cho công tác bảo tồn di tích.

2. Một số đề xuất về quản lý, bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long

Dựa trên kết quả phân tích dữ liệu thu được từ các thiết bị bảo tồn, qua quan sát, theo dõi các hiện tượng và từ kinh nghiệm thực tiễn trong việc xử lý kỹ thuật về bảo tồn trực tiếp tại khu di tích trong nhiều năm qua, dưới đây chúng tôi đưa ra một số đề xuất cùng những giải pháp căn bản cho định hướng trong công tác quản lý, bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long trước mắt cũng như lâu dài như sau:

2.1. Cần có nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn trong công tác nghiên cứu khoa học và mối quan hệ của nó trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị.

Mặc dù đã được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, nhưng khu di tích Hoàng thành Thăng Long đang đứng trước rất nhiều vấn đề, không chỉ trong lĩnh vực bảo tồn mà ngay cả trong công tác nghiên cứu khoa học và lập hồ sơ khoa học về những kết quả khai quật thực hiện từ những năm 2002-2004. Đây là hai lĩnh vực liên quan gắn kết chặt chẽ và logic với nhau. Đặc biệt, từ khi trở thành di sản, thì vấn đề nghiên cứu khoa học nhằm từng bước làm rõ hơn giá trị của khu di sản lại càng trở thành vấn đề quan trọng hơn, bởi chính những thành quả nghiên cứu này không những sẽ góp phần phục vụ hiệu quả và thiết thực cho công tác tuyên truyền quảng bá giá trị đến đông đảo công chúng, nâng tầm cao hơn giá trị cho khu di sản mà còn góp phần quan trọng cho chiến lược qui hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị của khu di sản. Trong Nguyên tắc chung về bảo tồn di tích di sản, Hiến chương ICOMOS Trung Quốc năm 2002 đã chỉ ra rằng: "bất kỳ chính sách quản lý khu di tích khảo cổ nào cũng phải dựa trên sự hiểu biết về các giá trị, ý nghĩa của nó".

Và, trong Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học của Ủy ban Quốc tế quản lý di sản khảo cổ học ICAHM được Đại Hội đồng ICOMOS thông qua tại Lausanne năm 1990 cũng đã từng nêu rõ "Việc bảo vệ di sản khảo cổ học phải được đặt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ nhất có thể có được về phạm vi và tính chất di sản. Vì vậy, việc nghiên cứu tổng quát các nguồn tư liệu khảo cổ học là công cụ thiết yếu để xây dựng các chiến lược bảo vệ di sản khảo cổ học. Do đó, việc nghiên cứu khảo cổ học phải là nghĩa vụ cơ bản trong việc bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học"[2].

Do đó, công tác nghiên cứu khoa học khu di tích cần phải tiếp tục đẩy mạnh.

2.2. Cần nâng cao nhận thức chuyên môn, khả năng tư duy và nhìn nhận vấn đề tác động tới việc bảo tồn di tích dưới góc độ khoa học, làm cơ sở và căn cứ để đánh giá các vấn đề cũng như hiện tượng môi trường tự nhiên, xã hội tác động tới di tích để từ đó có những biện pháp khắc phục, xử lý đúng đắn và mang lại hiệu quả cao, trong đó:

(a) Cần nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc giữ độ ẩm cho đất, đặc biệt là giữ ẩm bề mặt di tích trong giới hạn cho phép nhằm duy trì độ ẩm cần thiết đảm bảo cho di tích được ổn định (độ ẩm >35%).

(b) Cần tìm giải pháp nhằm hạn chế sự chiếu sáng của ánh nắng mặt trời và tìm giải pháp bảo tồn di tích trong điều kiện nhiệt độ, ánh sáng ổn định.

Trong giải pháp này, cần tính đến những điều kiện tối ưu nhất nhằm duy trì khung nhiệt độ và độ ẩm phù hợp để hạn chế tình trạng bốc hơi nước bề mặt di tích dẫn đến tình trạng muối hóa và sa mạc hóa.

(c) Cần đầu tư nghiên cứu thí điểm để tìm ra giải pháp hạn chế sự phát triển của thực vật và nấm mốc gây hại trên bề mặt di tích bằng cách sử dụng các loại hoá chất không gây hại đến di tích.

(d) Tiếp tục tăng cường đầu tư nghiên cứu và lấy số liệu đầy đủ, chính xác các thông số về nhiệt độ, độ ẩm, tình trạng nứt nẻ và các nhân tố khác tác động đến di tích làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp, hiệu quả nhằm duy trì hiện trạng di tích trong điều kiện bảo tồn tối ưu nhất.

(e) Công việc bảo tồn di tích khảo cổ học phải được thực hiện dựa trên các kết quả nghiên cứu, phân tích số liệu về bảo tồn và được xử lý dựa trên kinh nghiệm và cơ sở khoa học về bảo tồn. Các giải pháp nhổ cỏ, cạo rêu, quét lá cây rụng hay dọn các lớp bụi che phủ bề mặt di tích như vừa qua và hiện tại chỉ là công việc mang tính chăm sóc di tích thông thường, chưa phải là giải pháp và phương án bảo tồn.

Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài cần chú trọng đến công tác đầu tư nghiên cứu về khoa học bảo tồn, đào tạo nguồn lực, trang bị thiết bị, máy móc… nhằm phục vụ hiệu quả, thiết thực hơn cho công tác bảo tồn khu di sản Hoàng thành Thăng Long.

III. KẾT LUẬN

Các di tích khảo cổ học của khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã có rất nhiều biến đổi từ khi chúng xuất lộ do sự tác động mạnh mẽ của môi trường khí hậu phức tạp gây ra như sự biến đổi của đất do thiếu độ ẩm hay sự xuất hiện của vi nấm do sự dư thừa độ ẩm... Những nhân tố này đang tiềm ẩn những nguy cơ làm hư hại, phá hủy di tích.

Từ những bài học thực tiễn trong công tác nghiên cứu bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long nhiều năm, PGS.TS Bùi Minh Trí và TS Đinh Văn Thuận đã từng đưa ra nhận xét quan trọng rằng "Việc bảo tồn di tích Hoàng thành Thăng Long chính là bảo tồn ĐẤT. Muốn bảo tồn được khu di tích này, cần phải có sự đầu tư nghiên cứu chiều sâu và toàn diện về các yếu tố và nhân tố tác động hay làm ảnh hưởng đến quá trình làm hư hại hay huỷ hoại kết cấu đất của khu di tích" (Bùi Minh Trí 2011).

Những kết quả nghiên cứu địa chất, môi trường trong nhiều năm qua cũng cho thấy rõ, quá trình phong hóa của các tầng đất đắp trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long là quá trình phong hóa cả vật lý và hóa học vẫn đang tiếp tục có những diễn biến rất nhanh tại các khu di tích. Các tỷ số hóa học đều minh chứng cho quá trình phong hóa cũng như xu thế phát triển mạnh. Các chỉ tiêu cơ lý đất của các tầng đất đắp đều khẳng định thuộc loại đất bở rời, thuộc loại đất bán yếu. Do đó, để hạn chế tối đa được quá trình phong hóa tác động tới các tầng đất đắp hiện đang để lộ thiên tại khu di tích, ngoài việc nghiên cứu nhằm nâng cao các chỉ tiêu cơ lý của đất, trước mắt cũng như lâu dài cần tính đến giải pháp làm sao hay làm cách nào đó tốt nhất có thể để duy trì đảm bảo được độ ẩm tối thiểu của các tầng đất. Hiện tại, các tầng đất đắp được che bằng các mái che phần nào đã hạn chế việc tiếp xúc với sự thay đổi nhiệt độ ngoài trời, hạn chế quá trình phong hóa vật lý. Nhưng về lâu dài, khu di tích cần được nghiên cứu để hạn chế được sự tác động của mặt trời theo mùa tới các tầng đất đắp trong khu di tích. Các nhà mái che bảo tồn di tích đã được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xây dựng từ giữa năm 2005, như đã nêu, chỉ là mang tính tạm thời, chủ yếu để che mưa, che nắng, chưa đủ điều kiện cho việc bảo tồn di tích.

Kinh nghiệm thực tiễn được rút ra từ công tác bảo tồn tại khu di tích trong nhiều năm qua và kinh nghiệm từ những bài học thành công và thất bại của quốc tế trong công tác bảo tồn di tích khảo cổ học cho thấy rõ rằng, phương án bảo tồn hiệu quả lâu dài cho khu di tích Hoàng thành Thăng Long cần được quan tâm tính đến chính là bảo tồn di tích này ở trong môi trường kín, ổn định, có đủ điều kiện duy trì nhiệt độ và độ ẩm.

Có thể nói, ngành bảo tồn di tích khảo cổ học được quốc tế đánh giá là một trong những ngành khoa học rất khó bởi tính phức tạp và sự biến hóa đa dạng của nó. Công việc này thường xuyên phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ, hiểm họa và mầm mống xâm hại từ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Để có thể bảo tồn lâu dài được các di tích khảo cổ học và để phát huy được những giá trị tự thân của các khu di sản đó đến công chúng thông qua công tác bảo tồn, thì ngoài sự nỗ lực rất to lớn của các nhà khoa học về khảo cổ, về bảo tồn còn cần có sự chung tay, góp sức đầy trách nhiệm và thân thiện của các nhà quản lý, các ngành khoa học có liên quan ở trong và ngoài nước.

Tuy nhiên cũng cần nói lại rằng, việc bảo tồn di tích khảo cổ học luôn luôn là những thách thức vô cùng lớn không chỉ đối với Việt Nam mà cả trên thế giới. Việc bảo tồn di tích phải được xây dựng trên nền tảng khoa học về bảo tồn, hay nói cách khác phải có tri thức và kinh nghiệm về bảo tồn chứ không thể đơn giản hiểu rằng, việc cạo rêu cỏ, nhổ cỏ, quét lá rụng hay bơm tiêu nước là các hoạt động chính của bảo tồn di tích. Nếu chỉ dừng lại ở đó và cứ duy trì tích cực thường xuyên, thậm chí thái quá các hoạt động này, trong tương lai gần khu di tích sẽ chỉ còn là đống phế tích.

         

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Anh 2011: Bảo quản, bảo tồn di tích di vật trong quá trình khai quật, nghiên cứu khảo cổ học và khả năng ứng dụng của nó trong điều kiện khảo cổ học Việt Nam, Khảo cổ học, số 1 ;

2. Các Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu, Nxb. Xây dựng, Hà Nội 2004 ;

3. Trần Nghi, Đỗ Đức Hùng, 1996: Ảnh hưởng của đê sông Hồng đến quy luật tiến hóa trầm tích hiện đại của đồng bằng Bắc Bộ và suy nghĩ về giải pháp xử lý. Tạp chí Các khoa học về Trái Đất;

4. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành, 2000: Nguồn gốc và lịch sử tiến hóa hồ Hoàn Kiếm. Tạp chí Khảo cổ học 4 – 2000;

5. Trần Nghi và nnk, 2002: Nguồn gốc và lịch sử tiến hóa địa chất – môi trường Hồ Tây trong mối quan hệ với hoạt động sông Hồng;

6. Vũ Nhật Thắng và nnk, 2003: Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Thành phố Hà Nội. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam;

7. Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Ngọc Mên 1980: "Đường bờ biển miền bắc Việt Nam thời đồ đá mới và sự phân bố di chỉ đá mới". Những phát hiện về khảo cổ học năm 1980, tr. 25-29, Hà Nội;

8. Nguyễn Địch Dỹ (1984): Bản đồ địa chất kỷ thứ tư Việt Nam tỷ lệ 1:3.000.000". Thông báo khoa học viện KHVN (2), tr.67-71;

9. Nguyễn Địch Dỹ (1998): "Hiện trạng nghiên cứu địa tầng Đệ tứ ở Việt Nam và một số đề nghị". Tạp chí Các khoa học về Trái đất, (20),4/1998, tr. 258-265;

10. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận 2006: Báo cáo chuyên đề nghiên cứu môi trường địa chất khu khảo cổ Hoàng thành Hà Nội (giai đoạn 3). Viện KH và CN - Viện Địa chất, Hà Nội;

11. Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận 2006: Nghiên cứu phân tích địa chất môi trường khu di tích Hoàng thành Thăng Long 18 Hoàng Diệu - Hà Nội (giai đoạn 4), Viện KH và CN - Viện Địa chất, Hà Nội;

12. Haruyama S., Doãn Đình Lâm, Nguyễn Địch Dỹ 2001: "Về ranh giới Pleistocen/Holocen và địa tầng Holocen ở đồng bằng Bắc Bộ". Tạp chí Địa chất. Series B (17-18), Tr. 1-19;

13. Trần Nghi, Ngô Quang Toàn 1994: "Đặc điểm trầm tích và lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn Đệ tứ của khu vực Hà Nội và phụ cận". Tạp chí Bản đồ Địa chất , Số đặc biệt chào mừng 35 năm chuyên ngành BĐĐC 1959-1994, tr. 154-162;

14. Doãn Đình Lâm 2003: Lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng. Luận án TS Địa chất. Hà Nội 2003;

15. Đinh Văn Thuận và nnk. 1996: Vấn đề dao động mực nước đại dương với các đợt biển tiến biển thoái trong kỷ Đệ tứ ở Việt Nam. Địa chất tài nguyên Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật (T.2, 269-274);

16. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Ngọc. 1988: Những dẫn liệu cổ sinh về quy mô các đợt biển tiến ở đồng bằng Hà Nội trong kỷ Đệ tứ. Những phát hiện mới về khảo cổ.(43-46);

17. Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Ngọc. 1993: Các thời kỳ biển trong kỷ Đệ tứ ở nước ta và việc nghiên cứu chúng. Báo cáo viện địa lý;

18. Virote E. , Paiboon P. 1994: Correlation of Holocene sea leavel changes along the East coast of peninsular Thailand. Quaternary strratigraphy of Asia and the Pacific IGCP 296. United nations-New York.(93-104);

19. Qin Yunshan 1987: Biển tiến và biến động môi trường ở Delta Trường Giang kể từ Pleistoxen muộn trở lại. Late Quaternary sea level changes China. Ocean press (1-8);

20. Susumu Tanabe, Kazuaki Hori,… 2003: Red River delta evolution related to millennium-scale Holocene sea level changes. Quaternary science reviews 22 (2003) 2345-2361;

21. Zhang Mingshu 1987: Thay đổi khí hậu và mức biển ở vùng Hoàng Sa kể từ Pleistoxen muộn. Late Quaternary sea Level changes. China Ocean Press. (161-168);

22. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 2004: Báo cáo tổng hợp ý kiến tư vấn quốc tế đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long;

23. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 2004: Hội thảo khoa học toàn quốc đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long;

24. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 2004: Báo cáo kết quả nghiên cứu các tiểu ban và hội thảo khoa học toàn quốc nghiên cứu đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long;

25. Bùi Minh Trí và CS 2011: Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá về môi trường và các phương pháp bảo tồn di tích xuất lộ (Năm thứ hai). Tư liệu Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành.

 

MỘT SỐ ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN KẾT QUẢ QUAN TRẮC TỪ CÁC THIẾT BỊ BẢO TỒN LẮP ĐẶT TẠI DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

 
Đồ thị 1 - 2: Sự dao động mực nước ngầm tại 12 giếng tại khu A - B và so sánh với dòng chảy sông Hồng và lượng mưa qua 3 năm từ 2010 đến 2012
(số liệu quan trắc từ thiết bị đo mực nước giếng hàng ngày và trạm khí tượng thủy văn ngoài trời tại khu D)
 
 
Đồ thị 3 - 4: So sánh độ ẩm đất tại 1 điểm ở khu B vị trí không phủ bạt bề mặt di tích có hiện tượng biến đổi bất thường độ ẩm các tầng đất, đặc biệt bề mặt rất khô.
(Đồ thị theo dõi trong 3 năm 2010-2012 và có sự so sánh với đo chi tiết tại thời điểm tháng 12/2012)
 
Bảng 1: Nhiệt độ trung bình dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)
 
 
Biểu đồ 1: Nhiệt độ trung bình dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)
 
Bảng 2: Nhiệt độ tối thiểu và tối đa dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)
 
Biểu đồ 2: Nhiệt độ tối thiểu và tối đa dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)
 
Bảng 3: Độ ẩm không khí tối thiểu và tối đa dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)
 
Biểu đồ 3: Độ ẩm không khí tối thiểu và tối đa dưới di tích và ngoài trời qua 3 năm từ 2010 đến 2012.
(số liệu từ máy đo nhiệt độ không khí Hobo đặt dưới di tích và trạm khí tượng thủy văn đặt ngoài trời)

 


[1] Mặc dù theo thiết kế, nhà mái che chỉ có niên hạn sử dụng là 3 năm, nhưng thực tế nhà mái che này đã được duy trì sử dụng hơn 10 năm. Nhà mái che ở khu A-B hiện nay chính là sản phẩm của quá trình bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long do Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thực hiện từ năm 2005.

[2] Các Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu, Nxb. Xây dựng, Hà Nội 2004, tr. 177.

Nguyễn Thị Anh Đào; Lại Hữu Đỉnh; Lê Thị Minh Trà

(Thông báo Khoa học năm 2014)