Di tích Kiến trúc thời Trần ở Khu A-B, Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Tính kế thừa và sự phát triển

07/05/2016

Trong lịch sử phát triển của Kinh đô Thăng Long, nhà Trần là một trong những triều đại có nhiều thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng Kinh đô Thăng Long phát triển rực rỡ sau vương triều Lý, nhưng cũng là triều đại có nhiều biến cố thăng trầm. Những ghi chép ít ỏi của sử cũ đã phản ánh phần nào về sự khốc liệt mà Kinh đô Thăng Long thời Trần đã phải gánh chịu qua những biến cố ấy. Các dấu ấn vật chất tìm thấy trong lòng đất tại khu di tích khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu cũng đã phác thảo bức tranh Kinh đô Thăng Long hoa lệ và anh hùng thời Trần, đồng thời cũng chính những nét phác thảo đó đã phản ánh phần nào sự khốc liệt mà Thăng Long phải gánh chịu trong thế kỷ 13, 14.

            

 

   

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển của Kinh đô Thăng Long, nhà Trần là một trong những triều đại có nhiều thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng Kinh đô Thăng Long phát triển rực rỡ sau vương triều Lý, nhưng cũng là triều đại có nhiều biến cố thăng trầm. Những ghi chép ít ỏi của sử cũ đã phản ánh phần nào về sự khốc liệt mà Kinh đô Thăng Long thời Trần đã phải gánh chịu qua những biến cố ấy. Các dấu ấn vật chất tìm thấy trong lòng đất tại khu di tích khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu cũng đã phác thảo bức tranh Kinh đô Thăng Long hoa lệ và anh hùng thời Trần, đồng thời cũng chính những nét phác thảo đó đã phản ánh phần nào sự khốc liệt mà Thăng Long phải gánh chịu trong thế kỷ 13, 14.

Kết quả nghiên cứu di tích kiến trúc phát hiện được tại khu A-B, khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu sau 10 năm kể từ khi tạm dừng khai quật (2004), bước đầu đã phân lập được hệ thống kiến trúc của các thời: Đại La (thế kỷ 7-9); Đinh – Tiền Lê (thế kỷ 10), thời Lý (thế kỷ 11-13), thời Trần (thế kỷ 13-14), thời Lê (thế kỷ 15-18). Trong số các di tích đã được phân lập và nghiên cứu, có 62 di tích được xác định là di tích kiến trúc thời Trần, bao gồm các loại hình như: nhà, đường đi, sân gạch, tường bao,… các di tích cảnh quan môi trường như bồn hoa, hồ nước,…

Bài viết này sẽ giới thiệu kết quả nghiên cứu về các loại hình di tích kiến trúc thời Trần dựa trên cơ sở hệ thống hóa kết quả nghiên cứu, nhận thức các di tích thời Trần trong các khu A-B tính đến thời điểm năm 2013, đồng thời đưa ra một số nhận xét đánh giá về kết quả nghiên cứu đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết.

 

Hình 1: Đầu ngói ống lợp diềm mái cung điện trang trí rồng, đất nung, thời Trần, thế kỷ 13
(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

 

II. TÌNH HÌNH PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU DI TÍCH KIẾN TRÚC THỜI TRẦN

1. Sự kế thừa các công trình xây dựng của nhà Lý

Năm 1225, vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, Trần Cảnh lên ngôi vua, thành lập triều Trần đánh dấu sự chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Trong bối cảnh chuyển giao quyền lực tương đối hòa bình đó nhà Trần đã kế thừa và tiếp tục sử dụng các công trình do nhà Lý xây dựng. Các dấu vết khảo cổ học tìm thấy tại khu A-B đã minh chứng cụ thể cho thực tế đó, đồng thời các di tích phát hiện được tại đây còn cho thấy nhà Trần không chỉ kế thừa tương đối nguyên vẹn các công trình kiến trúc do nhà Lý xây dựng mà còn tiến hành sửa chữa, tôn tạo và sử dụng khá lâu dài.

Sau khi lên thay nhà Lý, giai đoạn đầu triều, nhà Trần đã kế thừa toàn bộ và gần như nguyên vẹn các công trình kiến trúc giai đoạn II (theo phân loại của các nhà nghiên cứu) nhà Lý xây dựng tại Thăng Long với cấu trúc trục Trung tâm đi qua kiến trúc bát giác (LYCKT050) và toàn bộ các kiến trúc thời Lý đồng đại với kiến trúc bát giác.

Trong quá trình sử dụng, nhà Trần cũng đã tiến hành sửa chữa, trùng tu các công trình kiến trúc của thời Lý. Việc sửa chữa và trùng tu các công trình thời Lý vào thời Trần được nhận biết cụ thể như sau:

Ở khu A, có thể thấy rất rõ sự sửa chữa và trùng tu kiến trúc lớn ở phía Bắc khu A. Kiến trúc này trước đây thường gọi là kiến trúc A1 nay được ký hiệu là kiến trúc LYAKT004. Về mặt cấu trúc của kiến trúc LYAKT004 hiện còn có các quan điểm khác nhau, quan điểm thứ nhất cho rằng ngay từ đầu, kiến trúc LYAKT004 có cấu trúc vì gồm 6 cột; ý kiến thứ hai cho rằng ban đầu bộ vì của kiến trúc LYAKT004 chỉ có 04 cột, các cột hiên được bổ sung khi kiến trúc xuống cấp. Chúng tôi nghiêng về quan điểm thứ hai. Các dấu vết móng trụ của cột hiên đều nằm bên ngoài bó nền, ở vị trí vốn là phần sân, đặc biệt các cột ở phía Tây được dựng liền sát với rãnh thoát nước. Đáng lưu ý hơn, một số móng trụ cắt phá vào thành cống phía Tây của kiến trúc như tại vị trí móng trụ MT11, MT16 và MT21. Về cấu trúc và kỹ thuật, các móng trụ này cũng được làm khác hoàn toàn với các móng trụ trong lòng kiến trúc. Các móng có kích thước nhỏ hơn rất nhiều, được đầm hoàn toàn bằng gạch, thay vì bằng sỏi kết hợp với gạch và đất sét như các móng trụ trong lòng kiến trúc. Với vị trí và cách thức gia cố các móng trụ này cho phép suy đoán rằng khi phần đua mái bị xuống cấp, người ta đã gia cường thêm các cột này, đầu cột đỡ thẳng vào vị trí của tàu mái.

Các dấu vết ở bó nền phía Đông cho thấy kiến trúc LYAKT004 đã được cải tạo vào thời Trần. Phần sân và nhất là hệ thống rãnh thoát nước ở phía Đông của kiến trúc đã được sửa chữa lại. Sự khác biệt rất rõ về kỹ thuật cũng như vật liệu xây dựng của rãnh thoát nước ở phía Đông so với rãnh thoát nước ở phía Tây. Sự khác biệt về độ cao và nhất là việc rãnh nước ở phía Tây không kết nối với rãnh nước ở phía Nam của kiến trúc càng cho thấy rõ hơn việc sửa chữa này.

Ở Khu B, dấu vết gia cố, tôn tạo còn lại rõ ràng và thấy ở nhiều công trình hơn.

- Tại kiến trúc LYBKT023, các cột âm đều nằm ngoài phạm vi bó nền ban đầu, móng các cột này đào phá vào mặt sân của thời Lý. Ngoài việc tôn nền cải tạo sân bằng cách lát thêm một lớp gạch hình chữ nhật mà dấu vết còn lại rất rõ ràng cả ở sân phía Bắc và sân phía Nam của kiến trúc. Đáng lưu ý là tại khu vực phía Bắc, chúng ta thấy rõ phần bó nền được cải tạo mở rộng.

- Những bằng chứng tìm thấy về việc sửa chữa cải tạo và nâng cấp sân tại khu vực kiến trúc LYAKT023 và LYAKT036 cho thấy, nhà Trần đã sửa chữa, cải tạo các kiến trúc thời Lý để tiếp tục sử dụng  diễn ra trên diện rộng.

Khi nghiên cứu các di tích kiến trúc thời Lý ở khu A-B cho thấy, trong giai đoạn đầu nhà Trần, các công trình kiến trúc của nhà Lý cơ bản được giữ nguyên, nhưng về mặt bố cục thấy có sự điều chỉnh bằng cách chia nhỏ không gian. Nguyên nhân của việc bố cục lại không gian có thể là do thay đổi công năng của từng khu vực. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những suy đoán ban đầu, cần tiếp tục thu thập thêm bằng chứng và nghiên cứu làm rõ.

2. Những công trình xây dựng mới dưới thời nhà Trần

2.1. Di tích kiến trúc

Có tổng cộng 20 dấu vết kiến trúc khác nhau, trong đó khu A có 09 di tích được ký hiệu TAAKT003, TAANK009, TAANK011, TAANK012, TAANK013, TAANK014, TAANK015, TAANK017 và TAAKT21; Khu B có 11 di tích được ký hiệu TABKT024, TABKT025, TABNK027, TABKT028, TABNK030, TABKT038, TABNK039, TABNK048, TABKT051, TABKT052 và TABNK57. Trong số các di tích này, dấu vết còn lại có thể nhận diện tương đối rõ mặt bằng và cấu trúc tổng thể được gọi là chung là “kiến trúc”, ký hiệu là KT; những dấu vết còn lại một phần nhưng được dự đoán là bộ phận cấu thành kiến trúc như bó nền, nền,... được gọi chung là “nền kiến trúc”, ký hiệu là NK. Như vậy, trong số 20 di tích kiến trúc đã được xác định nêu ra ở đây có 07 di tích là kiến trúc, số còn lại là nền kiến trúc.

Trong số 07 di tích kiến trúc nêu trên, có 03 dấu vết kiến trúc có thể xác định được một phần cấu trúc mặt bằng. Đó là kiến trúc TAAKT003 ở khu A và kiến trúc TABKT024 và TABKT028 tại khu B.

2.1.1. Di tích kiến trúc ở khu A

Dấu tích kiến trúc thời Trần được nhận biết rõ ràng nhất tại khu A chỉ có 01 công trình. Đó là kiến trúc TAAKT003.

Kiến trúc phân bố trong khu vực có tọa độ X183-195; Y118 – 135 thuộc phạm vi của các hố A1 và A13. Kiến trúc này tiếp tục phát triển về phía Bắc và phía Tây, tuy nhiên phía Tây có lẽ về cơ bản đã bị phá hủy hoàn toàn.

Dấu vết nhận biết mặt bằng của kiến trúc TAAKT003 là bó nền phía Đông và các gia cố móng trụ còn lại, phần bó nền phía Nam giữa các nhà nghiên cứu còn có điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, dấu vết đường gạch bó phía Nam vuông góc với bó nền phía Đông chính là bó nền phía Nam của TAAKT03; Quan điểm thứ hai cho rằng, bó nền phía Nam của kiến trúc TAAKT003 đã bị phá hủy và không còn dấu vết. Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ nhất và cho rằng, cấu trúc của bó nền phía Nam giống với bó nền ở phía Đông, do đó, mặt cắt ngang của bó nền cần phải rộng (trung bình bó nền này rộng 1,2m) để đủ đáp ứng việc xây dựng một cấu trúc uốn vòm mặt ngoài của bó nền và như thế mới thống nhất và kết nối được với bó nền phía Đông (Hình 2-3).

Bên cạnh dấu vết bó nền, TAAKT003 còn lại 06 móng trụ, các móng trụ được đầm từng lớp bằng sỏi và đất sét. Các móng trụ còn lại cho phép suy đoán kiến trúc chạy dài theo chiều Đông – Tây, mặt hướng về phía Nam, kết cấu nhiều gian, mỗi gian 4 hàng cột, kích thước trung bình mỗi gian 5,1m; khoảng cách giữa hai cột cái trong một hàng là 6,9m và khoảng cách giữa cột cái và cột quân là 3,0m. Dấu vết còn lại cho thấy, kiến trúc TAAKT003 có mặt bằng lớn, kỹ thuật xây dựng nền rất đặc biệt. Xung quanh nền được bó gạch bằng kỹ thuật cuốn vòm và được xếp thành họa tiết kiểu hoa chanh rất công phu, độc đáo. Đây là lần đầu tiên khảo cổ học phát hiện được một kiến trúc có cấu trúc bó nền độc đáo kiểu này. Việc phát hiện bó nền kiến trúc xếp gạch kiểu hình vòm và tạo các khung ô vuông hình hoa chanh cho thấy, hình thức trang trí này khá phổ biến ở thời Trần, nó không chỉ được dùng để trang trí hai bên đường đi hoặc dưới chân những bức tường phân không gian mà còn có thể sử dụng ở nhiều loại hình di tích khác.

2.1.2. Di tích kiến trúc ở khu B

a) Kiến trúc TABKT024

Kiến trúc nằm ở phía Bắc khu B, trong khu vực có tọa độ X177 đến X200; Y-172 đến Y-185. Dấu vết còn lại 16 móng trụ được xếp thành 05 hàng theo chiều Bắc - Nam, 04 hàng theo chiều Đông - Tây. Theo chiều Bắc - Nam, các hàng cách nhau trung bình 4,50-4,70m; theo chiều Đông - Tây, các hàng cách nhau trung bình 2,70m-3,0m. Do có sự khác biệt về khoảng cách giữa các móng trụ với nhau nên quan điểm về cấu trúc mặt bằng của kiến trúc TABKT024 cũng có sự khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, 16 móng trụ này thuộc về một kiến trúc, theo đó kiến trúc này có mặt bằng hình chữ nhật chạy dài theo chiều Bắc - Nam, khoảng cách giữa các hàng trung bình là 4,50m-4,70m; khoảng cách giữa các cột trong 1 hàng trung bình từ 2,70m-3,0m.

Quan điểm thứ hai cho rằng, 16 móng trụ này thuộc về 02 kiến trúc khác nhau. Chúng tôi nghiêng về quan điểm này và cho rằng kiến trúc thứ nhất chạy dài theo chiều Bắc Nam, khoảng cách giữa các hàng trung bình là 4,50m; khoảng cách giữa các cột trong 1 hàng là 2,70m và 6,0m. Điều này cũng có nghĩa là vị trí hàng cột thứ 3 (tính từ Đông sang Tây) là thuộc về một kiến trúc khác (Hình 4-6).

 
   
Hình 2 - 3: Dấu tích nền móng và chi tiết bó nền của kiến trúc thời Trần ở phía Bắc khu A - TAAKT003. 
(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

b) Kiến trúc TABKT028

Kiến trúc phân bố trong khu vực tọa độ X: 146 đến X: 156; Y -174 đến Y: -188. Dấu vết còn lại của kiến trúc gồm 09 móng trụ ngói và một phần dấu vết bó nền ở phía Bắc và phía Nam nơi tiếp giáp với sân gạch TABSG032. Dựa trên dấu vết còn lại của kiến trúc và sự phân bố của các móng trụ cho phép suy đoán rằng, kiến trúc TABKT028 có mặt bằng hình chữ nhật, chạy dài theo chiều Đông – Tây. Mặt bằng của kiến trúc còn tiếp tục mở rộng về hai phía Đông và Tây. Đây là kiến trúc có cấu trúc nhiều gian, nhiều hàng cột, mỗi hàng 4 cột, khoảng cách giữa hai cột cái trong cùng hàng là 4,2m; khoảng cách giữa cột cái và cột quân là 1,5m; khoảng cách gian trung bình là 3,9m. Sân gạch TABSG032 là một phần và nằm xen giữa tổ hợp kiến trúc này (Hình 7-9).

c) Kiến trúc TABKT038

Kiến trúc xuất lộ trong hố B12, thuộc khu vực có tọa độ X137 đến X 143; Y-180 đến Y-185, ở cao độ trung bình 7340mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 7.

Dấu vết còn lại của kiến trúc TABKT038 nằm giữa sân gạch TABSG32 và sân gạch TABSG41 (Hình 10-12). Về việc nhận diện dấu vết kiến trúc TABKT038 có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng, dấu vết còn lại gồm 3 móng trụ và 01 chân tảng nằm trên móng trụ. Ý kiến khác cho rằng, dấu vết còn lại của kiến trúc gồm 03 móng trụ được ký hiệu TABKT038/MT02,  TABKT038/MT03, TABKT038/MT04. Chúng tôi nghiêng về ý kiến thứ hai.

Như trên đã nêu, kiến trúc TABKT038 nằm xen giữa hai sân gạch TABSG32 và TABSG41 và kết nối với các kiến trúc khác ở phía Đông và phía Tây của hai sân gạch này. Từ cơ sở này cho thấy, kiến trúc TABKT038 có thể có sự kết nối với kiến trúc TABKT028 thông qua các kiến trúc khác.

d) Nền kiến trúc TABNK052

Dấu vết bó nền kiến trúc được phát hiện tại khu vực hố B3 và phần tiếp giáp với hố B9, trong khu vực có tọa độ X 97 đến X 112; Y -179 đến Y-183 ở độ sâu trung bình 1,7-1,9m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ 7210 đến 7270mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 6.

Bó nền kiến trúc TABNK052 gồm hai phần phân bố chạy dài 13,85m theo chiều Bắc – Nam và bắt vuông góc rồi chạy về phía Đông 3,65m, trong phạm vi hố B3. Nền kiến trúc này xây đè lên trên phần phía Đông của sân gạch TABSG054, cắt phá cống nước TABRN055, bị cống nước TABRN053 xây lên trên và làm phá hủy một phần. Để thuận tiện cho việc theo dõi, chúng tôi gọi phần bó nền của cấp thứ nhất (cấp trên) là TABNK052A; phần bó nền của cấp thứ 2 (cấp dưới) là TABNK052B.

Toàn bộ nền kiến trúc TABNK052 được xây dựng vào một phần của nền kiến trúc LYBKT036 và sân LYBSG037 thời Lý, đồng thời xây đè lên trên sân gạch TABSG054 và cắt phá cống nước TABRN055 thời Trần.

Bó nền trên (TABNK052A), phần chạy dài theo chiều Bắc – Nam gần như chồng đè lên đúng vị trí của bó nền phía Đông kiến trúc thời Lý LYBKT036. Ở phía Bắc, nó cũng sử dụng lại một phần nền của kiến trúc thời Lý. Đoạn chạy theo chiều Bắc Nam dài 13,85m, đầu phía Bắc bắt vuông với phần phía Đông Tây, đầu phía Nam còn tiếp tục kéo dài nhưng đã bị phá hủy, vì vậy không xác định được điểm kết thúc.

`Phần nền phía Đông Tây dài 3,65m, đầu phía Tây kết nối vuông góc với phần chạy theo chiều Bắc Nam, đầu phía Đông tiếp tục chạy về phía Đông và đã bị phá hủy bởi dòng sông của giai đoạn sau.

Toàn bộ phần bó nền trên được xây bằng gạch hình chữ nhật theo kỹ thuật tường đơn, lệch mạch. Phần móng của bó nền được xử lý bằng một hàng gạch nghiêng xây tiếp giáp mép ngoài của tường nhằm tăng độ cứng của phần nền phía ngoài, từ đó tạo cho thân bó nền luôn có xu hướng hướng tâm và ôm chặt lấy nền.

Bó nền phía dưới (TABNK052B) bị phá hủy nhiều hơn, dấu vết còn lại là những đoạn rời rạc. Bó nền dưới cũng có cấu trúc giống như bó nền trên và cách bó nền trên 0,96m về phía Đông và phía Nam. Giữa hai cấp bó nền này được đắp đầy bằng đất. Bó nền được xây xếp bằng 2 hàng gạch nghiêng theo kiểu lệch mạch, với kết cấu đơn giản như vậy khiến nó có cấu trúc giống bồn hoa bao quanh một kiến trúc hơn là một cấp của bó nền. Mô hình bồn hoa bao quanh các cấp nền cũng đã gặp ở một số di tích kiến trúc thời Trần, do vậy ở đây chúng tôi cho rằng cũng không nên loại trừ khả năng hàng gạch nghiêng chính là đường bó ngoài của bồn hoa, khoảng giữa cấp nền trên và cấp nền dưới chính là lòng của bồn hoa.

Nhìn chung, những gì còn lại của dấu vết bó nền TABNK052 không đủ để xác định giới hạn cũng như quy mô của nó. Các dấu vết còn lại chỉ cho phép chúng ta xác định đó là phần còn lại của một bó nền kiến trúc có quy mô khá lớn mà phần nền mở rộng về phía Tây, phía Bắc và Đông Bắc, phần phía Đông, Đông Nam có thể là một khoảng sân (?).

 

         

Hình 4 - 6: Dấu tích nền móng và chi tiết móng trụ của kiến trúc thời Trần ở phía Bắc khu B - TABKT024.

Ảnh: Bùi Minh Trí

  

 

e) Nền kiến trúc TABNK057

Dấu vết nền kiến trúc xuất lộ tại khu vực tiếp giáp giữa hố B3 và hố B5 mở rộng, trong khu vực có tọa độ X: 92 đến 96; Y-185 đến -186, ở độ sâu trung bình 1,2m-1,5m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ 7600mm đến 7650mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 6 và thứ 7.

Nền kiến trúc TABNK057 dài Bắc – Nam 3,75m, rộng Đông – Tây 0,75m, vuông góc và đè lên trên tường bao TABTB058. Mặt dưới của nền gạch phân tách với tường bao TABTB058 bằng một lớp đất hỗn hợp gồm đất và gạch ngói dày trung bình từ 12-15cm. Dấu vết còn lại cho thấy, nền kiến trúc TABNK057 tiếp tục phát triển về các hướng Đông, Nam, Bắc và giới hạn phía Tây là một hàng gạch nghiêng.

Hàng gạch nghiêng phía Tây dài 3,75m, được xếp bằng 16 viên gạch khác nhau, mặt trên của hàng gạch cao hơn so với mặt nền lát gạch trung bình 2-3cm; đầu phía Bắc bị đứt quãng khoảng 1-2 viên do các dấu vết của thời sau cắt vào. Gạch sử dụng đều đã bị vỡ, có nhiều niên đại, gồm các loại gạch hình chữ nhật thời Đại La, gạch hình chữ nhật của thời Lý, gạch hình chữ nhật thời Trần. Hàng gạch nghiêng này là một giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường cấu trúc của mặt nền, song cũng có thể là bó ngoài ở điểm kết thúc của nền gạch. Không có bằng chứng nào rõ ràng để khẳng định chức năng của hàng gạch nghiêng này.

Ở phía Đông, phần nửa phía Nam nền kiến trúc TABNK057 bị phá hủy bởi việc xây dựng bồn hoa TABBH062. Do không quan sát được diễn biến địa tầng nên đầu phía Bắc không xác định được nguyên nhân phá hủy. Phần nền lát phẳng còn lại 27 viên gạch, chủ yếu là gạch chữ nhật màu đỏ thời Lý, Trần. Một số mảnh gạch hình vuông vỡ được tận dụng  và một số ít gạch thời Đại La.

Quan sát hiện trạng của nền kiến trúc TABNK057 có thể nhận thấy một số điểm đáng lưu ý như sau:

Các viên gạch có thứ tự 1, 4, 6, 9,14 thuộc phần nền có một điểm chung là mép phía Tây của chúng tương đối thẳng nhau nhưng lại không liền sát với những viên còn lại trong cùng 1 hàng. Ở các vị trí khác, các viên trong cùng một hàng thường được lát liền sát nhau. Các viên không cùng một hàng được lát đan cài nhau theo kiểu cài răng lược. Như vậy, các viên kể trên cho thấy sự khác thường về kỹ thuật lát. Sự bất thường này dường như cho thấy nó đã được sửa chữa, điều chỉnh lại khi người ta xây dựng bồn hoa TABBH061.

Mặt khác, mặt của hàng gạch bao quanh bồn hoa bằng với mặt sân. Với cấu trúc này, cộng với các hiện tượng lát lại đã lưu ý ở trên cho phép suy đoán đến một giai đoạn nào đó nền kiến trúc TABNK057 được cải tạo, sửa chữa và xây thêm bồn hoa. Nói cách khác, có một giai đoạn bồn hoa cùng tồn tại với nền kiến trúc TABNKT057.

Như vậy, về mặt cấu trúc, nền kiến trúc TABNK057 được đắp, san gạt và làm phẳng bằng hỗn hợp đất và các loại phế liệu xây dựng như gạch, ngói và bên trên lát gạch. Để tăng cường kết cấu của mặt nền gạch, các khoảng nền được đan cài các hàng gạch nghiêng nhằm chia nhỏ mặt nền, tăng cường độ cứng, chống gạch lát bị xô lệch.

Mặc dù nhận diện được mặt nền công trình, nhưng quy mô của kiến trúc TABNK057 không thể xác định do thiếu các bằng chứng. Các dấu vết hiện còn cho thấy nền kiến trúc TABNK057 còn mở rộng ra cả bốn phía, nhưng mở rộng tới đâu và mở rộng như thế nào là một câu hỏi không thể giải đáp. Quy mô hiện tại có thể xác định là dài Bắc Nam 3,75m và rộng Đông – Tây 0,75m.

Niên đại xây dựng của kiến trúc TABNK057 có thể thuộc giai đoạn nửa cuối của thế kỷ 14, thậm chí là giai đoạn cuối cùng của thế kỷ 14, tức là vào cuối thời Trần.

 

           

Hình 7 - 9: Dấu tích nền móng và chi tiết móng trụ của kiến trúc thời Trần ở khu B - TABKT028

Ảnh: Bùi Minh Trí

         

  

   Hình 10 - 12: Dấu tích nền móng và chi tiết móng trụ của kiến trúc thời Trần ở khu B - TABKT038

   Ảnh: Bùi Minh Trí

 

2.2. Di tích sân gạch

Tổng cộng có 15 dấu vết sân gạch được phát hiện tại khu A-B, trong đó khu A có 03 sân gạch, ký hiệu TAASG004, TAASG010 và TAASG016; khu B có 12 sân gạch, ký hiệu TABSG026, TABSG029, TABSG031, TABSG032, TABSG033, TABSG024, TABSG041, TABSG044, TABSG046, TABSG047, TABSG050 và TABSG054. Các sân gạch này phần lớn đã bị phá hủy gần như hoàn toàn, dấu vết còn lại rất mờ nhạt nên việc xác định tính chất của nó chủ yếu dựa vào cấu trúc, kỹ thuật lát và mối quan hệ với các di tích xung quanh.

2.2.1. Di tích sân gạch ở khu A

Tiêu biểu cho 3 sân gạch của khu A là sân gạch TAASG004. Đây là sân gạch nằm ở phía Đông của kiến trúc TAAKT003 và tiếp giáp với tường bao TAATB005 ở phía Nam. Dấu vết còn lại dài Đông - Tây 2,8m, rộng Bắc – Nam 2,4m. Toàn bộ mặt sân được lát bằng gạch, hiện còn 38 viên lát theo kiểu thẳng hàng, xung quanh có tường bó khá cao. Từ trong sân có bậc cấp dẫn lên kiến trúc TAAKT003. Cống nước TAARN07 chạy ngầm qua tường bao TAATB005, kết nối sân gạch TAASG004 với sân gạch ở phía Nam của kiến trúc TAAKT003 nhằm tiêu thoát nước chung cho các sân này (xem Hình 2).

2.2.2. Di tích sân gạch ở khu B

a) Sân gạch TABSG026

Sân gạch xuất lộ tại hố B16, trong khu vực có tọa độ X 177 đến X 195; Y-174 đến Y-177, nằm song song và liền sát với kiến trúc TABKT024.  

Dấu vết còn lại của sân gạch TABSG026 gồm một số viên gạch hình chữ nhật màu đỏ, được suy đoán là gạch lát nền của sân. Từ đây cho thấy, sân được lát bằng gạch hình chữ nhật màu đỏ, kích thước trung bình dài 36-38cm, rộng 18-21cm, dày 5-6cm. Sân được lát theo kiểu thẳng mạch, phần rìa ngoài được khóa bởi các hàng gạch nghiêng.

b) Sân gạch TABSG032

Dấu vết sân xuất lộ ở hố B12, trong khu vực có tọa độ X143 đến X 146; Y -180 đến Y-186, tiếp giáp với kiến trúc TABKT028 ở phía Bắc và kiến trúc TABKT038 ở phía Nam, song song và cách sân gạch TABSG041 qua kiến trúc TABKT038.

Dấu vết còn lại gồm dấu vết bó bao quanh sân và gạch lát. Sân có mặt bằng hình chữ nhật, dài (Đông – Tây) 4,50m, rộng (Bắc – Nam) 2,90m. Sân được lát bằng gạch hình chữ nhật màu đỏ theo kỹ thuật thẳng mạch giống như kỹ thuật lát của sân TABSG026, có kích thước trung bình: dài 27-39cm, rộng 18-20cm, dày 05-06cm.

Đáng lưu ý, hàng gạch bó phía Bắc của sân gạch TABSG032 cũng chính là một phần bó nền phía Nam của kiến trúc TABKT028. Mặc dù đã bị phá hủy gần như hoàn toàn song vẫn có thể nhận ra đó là một phần của bó nền phía Bắc của kiến trúc TABKT038. Điều đó có nghĩa là, sân TABSG032 nằm giữa kiến trúc TABKT028 và kiến trúc TABKT038.

c) Sân gạch TABSG033

Dấu vết sân gạch này xuất lộ chạy dài theo chiều Bắc Nam từ hố B17 đến hố B12, trong phạm vi có tọa độ X 131 đến X 146; Y-179 đến Y-183. Đầu phía Bắc có tái sử dụng lại một phần của mặt sân TABSG032; phần giữa bị phá hủy do việc xây dựng giếng LEBGi015 của thời Lê. Dấu vết còn lại dài 13,6m, rộng (lòng sân) 1,35m; hai bên Đông Tây đều được bó gạch khá kiên cố, mặt sân được lát bằng gạch hình vuông màu đỏ. Khác với các loại  gạch hình vuông thường thấy của thời Lý, Trần trước đó, gạch sử dụng để lát sân ở đây có kích thước nhỏ hơn và rất hiếm gặp ở các di tích thời Trần khác. Gạch có kích thước trung bình 30-32cmx30-32cm, dày 2,5-3cm; xương mịn và đanh hơn so với các loại gạch vuông khác, bề mặt có vân giống kiểu hoa văn khắc vạch được tạo bằng bút nhiều răng, dường như nó được tạo để chống trượt hơn là để trang trí. Sân gạch TABSG033 nằm đè lên hoặc cắt phá vào di tích sân gạch TABSG032, TABSG041 và kiến trúc TABKT038.

Ở đầu phía Nam cũng là điểm kết thúc của sân gạch này có dấu vết của một cống nước. Đây là cống nước kết nối giữa sân TABSG033 với sân TABSG046 ở phía Nam. Điều này cũng đồng nghĩa phản ánh rằng, 2 sân gạch này có mối quan hệ cùng thời kỳ và cùng nằm trong một tổng thể kiến trúc.

Với các dấu vết hiện còn nêu trên cho thấy, sân gạch TABSG033 được xây dựng sau khi sân gạch TABSG032, TABSG041 và kiến trúc TABKT038 bị phá hủy. Nghĩa là nó được xây dựng muộn hơn và thuộc một lớp kiến trúc hoàn toàn khác so với các di tích nói đến ở đây.

d) Sân gạch TABSG034

Sân gạch này phát hiện tại hố B12, trong khu vực có tọa độ X 39 đến X42; Y-176 đến Y-180, đã bị cắt phá bởi giếng nước thời Lê LEBGI015.

Dấu vết còn lại của sân gạch bao gồm đường bó 2 phía Bắc, Nam và gạch lát. Kích thước phần sân hiện còn dài (Đông – Tây) 2,7m, rộng (Bắc - Nam). Mặt sân được lát bằng gạch hình chữ nhật theo kiểu đan cài cứ 2 viên quay ngang lại có 2 viên quay dọc.

Sân TABSG034 nằm cao hơn và phân cách với sân TABSG033 bằng một lớp đất. Một phần sân đã cắt phá đầu phía Đông của rãnh nước TABRN042. Dựa vào bằng chứng này cho thấy, sân TABSG034 không chỉ được xây dựng muộn hơn sân gạch TABSG033 mà còn muộn hơn cả rãnh nước TABRN042. So sánh với các di tích khác, sân gạch TABSG034 thuộc nhóm các công trình cuối cùng của thời Trần được xây dựng tại khu B.

e) Sân gạch TABSG041

Dấu vết sân gạch TABSG041 được phát hiện tại khu vực hố B12, nằm ở lớp dưới của cống nước TABRN042, cách cống nước này khoảng 30cm về phía Nam, trong khu vực có tọa độ X: 135 đến X 138; Y -179 đến Y-182, ở độ sâu trung bình 1,2-1,5m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ 7390 đến 7430mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 4 và lớp đào 5.

Sân TABSG041 có mặt bằng hình chữ nhật, dài 4,60m, rộng 2,90m. Dấu vết còn lại gồm bó nền bao quanh sân và gạch lát mặt sân.

Dấu vết bó nền còn thấy ở cả 4 mặt Đông, Tây, Nam và Bắc. Trong đó, bó nền ở phía Đông, Tây và Nam còn lại khá rõ ràng.

Đáng lưu ý, trên bó nền phía Nam, cách bó nền phía Tây 1,20m về phía Đông, có một cửa cống thoát nước. Đây là cửa cống kết nối giữa sân TABSG041 với sân TABSG063. Điều này cũng có nghĩa, hệ thống tiêu thoát nước của hai sân này được kết nối liên hoàn với nhau. Đây là manh mối rất quan trọng cho thấy mối quan hệ giữa sân TABSG041 với sân TABSG063 cũng như mối quan hệ của nó trong tổng thể kiến trúc rộng lớn hơn.

Mặt sân được lát bằng gạch hình chữ nhật theo kỹ thuật thẳng mạch, phần lớn đã bị dỡ, chỉ còn lại một số viên. Các viên còn lại cho thấy, chiều Bắc Nam có 7 hàng (theo chiều dài của viên gạch), chiều Đông Tây có 23 hàng (theo chiều rộng của viên gạch). Gạch có chất lượng khá tương đồng nhau, màu đỏ, xương mịn và đanh, kích thước đều nhau, trung bình 36-38cm x18-20cm x4,5-5cm.

Xét về tổng thể, sân TABSG041 có cấu trúc và kỹ thuật xây dựng hoàn toàn giống với sân TABSG032. Cao độ của hai sân cũng tương đương nhau. Như vậy, với việc xác định được mối liên hệ giữa sân TABSG041 với sân TABSG032 và sân TABSG041 với sân TABSG063 cho phép khẳng định rằng, các sân này có quan hệ với nhau và nằm trong một tổng thể kiến trúc của cùng một thời kỳ (xem Hình 13-14).

f) Sân gạch TABGS044

Dấu vết sân TABGS044 xuất lộ tại hố B2Đ và B12, song song và cách sân TABSG034 10,45m về phía Nam, trong khu vực có tọa độ X: 127 đến X 132; Y -177 đến Y-180, ở độ sâu trung bình 1,2-1,5m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ +7640 đến +7840mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 1 và lớp đào 2.

Dấu vết còn lại của sân gồm gạch bó xung quanh phía Tây, một phần phía Nam, một phần phía Bắc và mặt sân lát gạch. Phần phía Đông đã bị phá hủy. Phần còn lại của sân có mặt bằng hình chữ nhật, chiều Bắc – Nam rộng 2,1m, chiều Đông – Tây 1,3m. Gạch lát mặt sân là loại gạch hình chữ nhật và gạch hình vuông, trong đó, gạch vuông là loại gạch được tận dụng lại. Các đường bó xung quanh sân được xây xếp bằng các loại gạch tận dụng theo kiểu lệch mạch.

Sân TABGS044 nằm cao hơn và phân tách với các di tích khác của thời Trần như sân TABGS064 và TABGS033. Với vị trí, diễn biến địa tầng, vật liệu, kỹ thuật xây dựng cho phép xác định TABGS044 được xây dựng cùng giai đoạn với sân TABGS034 nêu trên.

g) Sân gạch TABSG046

Sân TABSG046 xuất lộ tại hố B2Đ, cách sân gạch TABSG033 khoảng 3,70m về phía Nam và xây đè lên trên một phần phía Nam của sân gạch TABSG064, trong khu vực có tọa độ X124 đến X128; Y-179 đến Y-183, ở độ sâu trung bình -105cm đến -120cm, tương đương cao độ 7640mm đến 7790mm so với mực nước biển.

Dấu vết còn lại của sân TABSG046 chạy dài theo chiều Bắc – Nam gồm lòng sân lát gạch, đường bó phía Bắc, một phần đường bó phía Đông và đường bó phía Tây. Phần lòng sân hiện còn dài (Bắc – Nam) 2,2m, rộng (Đông – Tây) 1,52m, được lát gạch hình vuông, giống như gạch lát sân TABSG033, kích thước trung bình 29-31cm x29-31cm, dày 3cm.

Đường bó phía Bắc còn tương đối rõ ràng, đáng lưu ý ở gần giữa có cửa cống kết nối với cống nước TABSG033 cho thấy có sự liên kết khá chặt chẽ giữa sân TABSG033 và sân TABSG046. Khoảng cách nằm giữa hai sân gạch này có thể là phần nền của một kiến trúc.

h) Sân gạch TABSG047

Sân xuất lộ ở phía Đông của hố B10, trong khu vực có tọa độ X120 đến X123; Y- 177 đến Y-180, ở độ sâu trung bình -120cm đến -125cm, tương cao độ 7640mm đến 7590mm so với mực nước biển.

Dấu vết còn lại  của sân TABSG047 gồm gạch bó phía Tây và gạch lát sân. Hàng gạch bó phía Tây của sân còn lại phần móng, được xây bằng nhiều loại gạch khác nhau, trong đó có nhiều viên là gạch vỡ được tận dụng. Dấu vết còn lại của hàng gạch bó này dài Bắc Nam 3,5m, rộng Đông – Tây 0,6m. Phần phía Đông của sân phị phá hủy do dòng sông thời Lê. Hai đầu phía Bắc và Nam đã bị phá hủy bởi các công trình của giai đoạn sau.

Sân chủ yếu được lát bằng gạch hình chữ nhật, nhưng kỹ thuật lát khá đặc biệt. Các viên được xếp đan cài nhau như kỹ thuật đan nóng mốt, tức là khá giống kỹ thuật lát sân TABSG034, nhưng khác ở chỗ, nếu ở sân TABSG034 dùng hai viên gạch chữ nhật để ghép thành hình một viên hình vuông rồi xếp đan cài theo kiểu một viên quay ngang, một viên quay dọc thì ở sân TABSG047 diện đan cài rộng hơn. Kỹ thuật này làm cho kết cấu của mặt sân chắc chắn hơn so với các kỹ thuật lát sân khác.

i) Sân gạch TABSG050

Đây là sân gạch hình vuông, xuất lộ ở góc Đông Nam của hố B10, cách sân gạch TABSG047 khoảng 3,5m về phía Nam, cách nền kiến trúc TABNK052A khoảng 3,20m về phía Bắc, trong khu vực có tọa độ X114 đến X 117; Y-179 đến Y- 182, ở độ sâu trung bình -140cm đến -145cm, tương đương cao độ 7390mm đến 7440mm so với mực nước biển.

Dấu vết còn lại của sân TABSG050 gồm một phần đường bó phía Bắc và gạch lát nền có chiều Bắc – Nam 2,45m, chiều Đông Tây 1,95m. Đường bao sân phía Bắc được xây xếp bằng gạch hình chữ nhật loại mỏng, giống loại gạch xây xếp bó nền của sân TABSG046. Mặt sân được lát bằng gạch hình vuông màu đỏ, có vân sần giống kiểu hoa văn khắc vạch, kích thước trung bình 30-32cm x 30-32cm, dày 3cm. Đây cũng chính là loại gạch dùng để lát sân TABSG033 và sân TABSG046.

So sánh cao độ mặt sân TABSG050 với các di tích sử dụng chung một loại vật liệu như sân TABSG033, TABSG046 và TABNK052 có thể thấy, sân TABSG050 nằm thấp hơn so với nền các sân này từ 15cm đến 20cm, nhưng lại tương đương với cao độ của nền kiến trúc TABNK052.

Với đặc điểm vị trí, cấu trúc và cao độ nêu trên, có thể suy đoán, rất có thể sân TABSG050 và nền kiến trúc TABNK052 nằm trong một cấu trúc tổng thể kiến trúc - sân.

k) Sân gạch TABSG054

Sân được phát hiện tại khu vực hố B3, trong khu vực có tọa độ X: 97- 107; Y 182 - 186, ở độ sâu trung bình 1,7m đến 1,9m so với mặt đất trước khi khai quật, tương ứng cao độ 7140 đến 7270mm so với mực nước biển.

Đây là sân được lát bằng gạch vuông. Ở phía Tây, sân kết nối với một kiến trúc nào đó mà dấu vết còn lại chính là hàng gạch xây theo kiểu tường đơn chạy dài theo chiều Bắc – Nam (gọi tắt là bó nền phía Tây), đồng thời cũng là giới hạn phía Tây của sân.

Dấu vết còn lại của sân có hình chữ nhật, dài theo chiều Bắc Nam 9,07m. Sân được xây dựng đúng vào một phần của nền kiến trúc thời Lý (LYBKT036). Một phần nền và chiều cao của móng trụ kiến trúc LYBKT036 đã bị phá khi xây dựng sân này.

Mặt sân TABSG054 được lát gạch vuông, màu đỏ, xương mịn, đanh, chất liệu sét loang lổ, kích thước trung bình 39-40cm x 39-40cm. Tổng cộng còn lại 58 viên gạch lát, các viên còn lại chủ yếu phân bố ở hai hàng dọc tiếp giáp với bó nền phía Tây và hai hàng ngang tiếp giáp với bó nền phía Nam. Phía Bắc của sân bị che phủ bởi lớp đất đầm nền của kiến trúc phía trên, phần còn lại đều đã bị bóc dỡ do việc xây dựng các công trình vào giai đoạn sau. Phần mặt sân không hoàn toàn bằng phẳng, phần giữa bị võng xuống do hiện tượng sụt lún của nền đất phía dưới. Hiện tượng sụt lún diễn ra sau khi khoảng sân này đã bị phá hủy, thậm chí nó có thể diễn ra sau khi các công trình giai đoạn sau đã bị phá hủy. Bằng chứng cho điều này là, ngay tại vị trí cong võng của sân gạch TABSG054 cũng chính là hiện tượng cong võng của bó nền kiến trúc TABNK052 ở phía trên. Theo ghi chép của các bộ quốc sử, dưới thời Trần, khu vực Thăng Long có nhiều trận động đất. Liệu hiện tượng sụt lún này có phải là hệ quả của một trong những cuộc động đất đó hay không? Câu trả lời cần có sự hợp tác của các nhà vật lý địa cầu, nhưng rõ ràng với kiểu sụt lún có nguyên nhân do đứt gãy này là một hiện tượng rất đáng lưu ý, không chỉ đối với việc nghiên cứu lịch sử Thăng Long mà còn có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của vùng đất này - vùng đất nằm trên rãnh đứt gãy của Sông Hồng (Hình 21).

Qua nghiên cứu, phân tích các dấu vết sân gạch còn lại ở khu B nêu trên bước đầu có thể phân định thành các giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn thứ nhất: Gồm các sân TABSG026 và TABSG031. Các sân này có các đặc điểm chung là: (1) Đây là lớp sân được nhà Trần sửa chữa lại các sân của thời Lý bằng cách nâng cao mặt sân lên trong khi các kiến trúc (hoặc ít nhất là mặt nền) được xây dựng từ thời Lý vẫn được tiếp tục sử dụng. TABSG026 chính là sân phía Bắc của kiến trúc LYBKT023 và TABSG031 chính là sân phía Tây của kiến trúc LYBKT036; (2) Sân được lát bằng gạch hình chữ nhật theo kỹ thuật thẳng mạch.

+ Giai đoạn thứ hai: Có 01 sân, đó là sân TABSG054. Sân TABSG054 cắt vào một phần nền của kiến trúc LYBKT036 và bị các dấu vết kiến trúc khác của thời Trần ở khu vực này cắt phá, chồng đè lên trên. Kiến trúc LYBKT036 được thời Trần tiếp tục sử dụng lại, như vậy khi sân TABSG054 được xây dựng thì kiến trúc LYBKT036 đã bị phá hủy. Sân này được lát bằng gạch vuông theo kỹ thuật thẳng mạch.

+ Giai đoạn thứ ba: Có các sân TABSG032, TABSG041 và TABSG063. Các sân này được lát bằng gạch chữ nhật theo kỹ thuật thẳng mạch.

+ Giai đoạn thứ 4: Gồm các sân TABSG033, TABSG046 và TABSG051. Các sân này được lát bằng loại gạch vuông kích thước nhỏ và mỏng hơn so với các loại gạch vuông thường gặp của thời Trần. Gạch có kích thước trung bình 30-32cm x 30-32cm, dày 2,5-3cm; xương mịn và đanh hơn so với các loại gạch vuông khác, bề mặt có vân giống kiểu hoa văn khắc vạch được tạo bằng bút nhiều răng, đồ án hoa văn không ổn định, dường như nó được tạo để chống trượt hơn là để trang trí.

+ Giai đoạn thứ 5: Gồm các sân TABSG034, TABSG044 và TABSG047. Khác với việc xác định sân ở các giai đoạn nêu trên là chúng được xếp trong một giai đoạn và có thể khẳng định chắc chắn chúng được xây dựng cùng thời gian và trong cùng một cấu trúc kiến trúc tổng thể, nhưng các sân ở giai đoạn 5 không có bằng chứng nào xác định chúng có được xây dựng trong cùng một thời kỳ hay không, càng không có cơ sở để xác định chúng được xây dựng trong một kết cấu kiến trúc tổng thể. Bằng chứng để xếp các sân này vào cùng một giai đoạn là: (1) Về mặt diễn biến địa tầng, các sân này nằm đè lên các di tích của giai đoạn trước; (2) Về mặt kỹ thuật xây dựng, các sân này được xây xếp bằng các loại gạch gạch khác nhau, chủ yếu là tái sử dụng các loại gạch của giai đoạn trước và kỹ thuật xây xếp không đồng nhất, rất khác biệt so với kỹ thuật xây xếp giai đoạn trước đó.

 

 

Hình 13 - 14: Dấu tích các sân gạch thời Trần ở giữa khu B. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

2.3. Di tích giếng nước

Giếng nước kí hiệu TAAGI002 phát hiện tại hố A9, trong vị trí có tọa độ X: 92 – X94; Y: -131 đến Y-134. Đây là giếng nước hiếm hoi của thời Trần tìm thấy tại khu A-B. Giếng còn tương đối nguyên vẹn, bị phá huỷ mất phần trên, đường kính trong lòng giếng 1,18m, đường kính bao ngoài 1,94m, độ sâu còn lại 4m. Thành giếng được xây xếp bằng gạch bìa theo kiểu xếp gài xương cá, đáy được lát bằng gạch vuông, phần bao xung quanh mặt ngoài của thành giếng được chèn bằng đất sét. Giếng TAAGi002 cho thấy sự khác biệt về mặt kỹ thuật xây dựng giếng thời Trần với các thời kỳ khác. Việc sử dụng đất sét chèn xung quanh thành ngoài của giếng là giải pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của nước bề mặt vào trong lòng giếng (Hình 15).

2.4. Di tích tường bao

Đã phát hiện tổng cộng  05 dấu tích tường bao, trong đó khu A có 04 dấu vết tường bao gồm TAATB005, TAATB006, TAATB020 và TAATB023; khu B có 01 dấu tích có ký hiệu TABTB058.

2.4.1. Di tích tường bao khu A

a) Tường bao TAATB006

Dấu tích tường bao này được phát hiện tại hố A1, trong khu vực có tọa độ X 164 đến X170; Y: -114 đến Y-135. TAATB006 chạy dài theo chiều Đông Tây, lệch về phía Nam khoảng 150, được xây dựng chồng xếp lên trên nền kiến trúc LYAKT004.

Dấu vết còn lại phần móng tường bao được đầm bằng gạch chạy dài 18,7m, rộng 1,2m. Chân tường được xếp gạch hình hoa chanh, phần còn lại ở phía Đông có kích thước dài 2,04m, rộng 0,5m. Cấu trúc của tường bao TAATB006 gồm phần móng được đầm chèn bằng gạch ngói vụn, thân được xếp bằng gạch và có thể một phần đắp đất, hai bên chân tường xếp gạch theo kiểu nêm cối hình hoa chanh. Việc chân tường được xếp gạch kiểu hoa chanh vừa để trang trí song đây cũng là một giải pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ tường, chống nước ngấm sâu vào thân tường, tạo sự bền vững cho bức tường. Từ yếu tố kỹ thuật này có thể suy đoán rằng, phần chân tường có thể được xây xếp bằng gạch và bên trên có thể được đắp bằng đất và có mái che.

Việc phát hiện di tích tường bao TAATB006 nêu trên nằm chồng xếp lên kiến trúc thời Lý ở phía dưới cho thấy giai đoạn này thời Trần đã có sự điều chỉnh lớn trong qui hoạch xây dựng Kinh đô Thăng Long. Về mặt lý thuyết cũng như thực tế cho thấy rằng, các bức tường thường được xây dựng song song hoặc vuông góc với các công trình kiến trúc đương thời, nhưng TAATB006 là trường hợp không tuân thủ theo qui luật đó. Nó không song song và cũng không vuông góc với những kiến trúc thời Trần đã biết. Hơn nữa, nó cũng không cùng thời kỳ với các kiến trúc Trần đã biết, chính vì thế việc cho rằng thời Trần có một giai đoạn, kiến trúc có hướng Nam lệch Đông khoảng 150 là giả thuyết không phải hoàn toàn không có cơ sở, do đó trong quá trình khai quật nghiên cứu tiếp theo cũng cần chú ý đến giả thuyết này.

b) Tường bao TAATB005

Là dấu tích tường bao chạy dài từ khu A sang đến khu B, phân bố trong phạm vi các hố A13; A1 và B17 trong khu vực có tọa độ X: 161 đến 179; Y: -114 đến -183. Dấu vết còn lại gồm 2 phần, phần thứ nhất được ký hiệu là TAATB005A chạy dài theo chiều Bắc Nam, bắt đầu từ góc Đông Nam của kiến trúc TAAKT003 và kết thúc ở điểm bắt vuông góc với đoạn tường TAATB005B, dài 15,6m. Dấu vết còn lại bao gồm nền móng và phần chân tường xếp gạch hoa chanh, các dấu vết còn lại không nhiều nhưng cũng đủ để xác định TAATB005A có cấu trúc giống như TAATB006 (Hình 16).

Phần thứ 2 của TAATB005 được ký hiệu là TAATB005B chạy dài theo chiều Đông Tây, từ khu A sang khu B, phần giữa bị cắt phá bởi con sông được đào vào thời Lê, đầu phía Đông có lẽ vẫn còn tiếp tục chạy vào vách phía Đông của khu A. Tổng chiều dài dấu vết còn lại của TAATB005B là 62,5m. Cấu trúc tường bao TAATB005B giống như TAATB006, tức là gồm phần móng được đầm chèn bằng gạch ngói vụn, thân được xếp bằng gạch và có thể một phần đắp đất, hai bên chân tường xếp gạch theo kiểu nêm cối hình hoa chanh, các hình hoa chanh được xếp bằng gạch các loại.

c) Tường bao TAATB020

Dấu vết còn lại tại khu vực hố A15 và A20, trong khu vực có tọa độ X: 178 đến X: 195; Y: - 117,7 đến Y: -134,6. Tường bao có hình gấp khúc, nằm theo chiều Bắc – Nam, dài 8,65m; rộng Đông Tây 1,1m; phần còn lại cao nhất là 68cm, được xếp bằng 13 lớp gạch, ngói theo kỹ thuật xếp chồng khít, lệch mạch, ngói có tác dụng nêm giữa các lớp gạch. Đoạn phía Bắc dài 2,4m, rộng 1,1m kéo thẳng xuống phía Nam sau đó bắt vuông góc với đoạn ở phía Nam dài 6,2m. Đoạn tường này nằm lệch về phía Đông so với đoạn phía Bắc là 78cm, hay nói cách khác đây không phải là một bức tường thẳng.

Về mặt cấu trúc, tường bao TAATB020 có cấu trúc gồm móng tường và thân tường. Móng của tường bao TAATB020 không được xử lý cẩn thận như móng tường của TAATB005 và TAATB006 đã biết, có thể do tường được xây dựng trên nền kiến trúc khá vững chắc của thời Lý vì vậy không cần thiết phải xử lý hoặc cũng có thể do trọng tải của bức tường không lớn (Hình 17).

Do thân tường không tạo thẳng mà tạo gấp khúc (kiểu zích zắc), nên để tiện theo dõi về mặt kỹ thuật xây dựng, chúng tôi phân thành 2 đoạn nêu dưới đây.

Đoạn thân tường thứ nhất: Bắt đầu từ phía Bắc đến phần bắt góc với đoạn phía Nam dài 2,4m rộng 1,1m. Nằm trên nền gạch cũ của thời Lý, cách rãnh nước  ở phía Bắc là 1,8m có cấu trúc khác với đoạn ở phía Nam.

Thân tường được xây bằng gạch ở hai rìa cạnh, bắt đầu từ móng gia cố, cao 28 -29cm với 5 lượt gạch, ngói sau đó giật cấp vào bên trong 3cm-4cm rồi xây tiếp phần thân tường ở phía trên với chiều cao hiện còn là 39cm.

Gạch xây tường chủ yếu là gạch và ngói tận dụng bị vỡ 1/2 hoặc 2/3 còn lại 2 đến 3 cạnh phẳng từ nhiều loại gạch khác nhau với nhiều niên đại. Trong khi xây dựng mặt phẳng của viên gạch được đưa ra phía ngoài  tạo cạnh phẳng và tính mỹ thuật, bên trong lồi lõm như hình răng cưa, nhưng cũng có chức năng riêng mà ít được để ý, những điểm nhô ra giống như những móc câu bám vào bên trong giữ cho hàng gạch được vững chắc, kỹ thuật này rất được chú ý vào thời Trần, nếu chúng ta quan sát kỹ bức tường ở khu D4 (TATB014 và TATB015) được xây dựng hoàn toàn bằng gạch nguyên đầy đủ hình dáng, thì cứ một viên dọc lại xuất hiện một viên ngang và viên ngang đó chính là những điểm khoá tạo độ liên kết chống cho tường bị đổ.

Bên trong lòng của hai hàng gạch ngói vỡ và đất sét được đổ vào. Tuy nhiên quan sát kỹ cho thấy người ta đã xếp những mảnh ngói vỡ hoàn toàn có chủ đích vào bên trong lòng tường theo từng lượt, với nhiều loại ngói khác nhau, gồm ngói ống, ngói mũi sen, ngói phẳng, trong đó nhiều nhất là ngói mũi sen, ngói phẳng vỡ 1/2 hay 1/3, sau khi xếp xong đất sét được đổ vào để lấp kín những khoảng trống, khe hở mà ngói để lại. Ở đây cần lưu ý rằng, đất đổ vào bên trong không phải là loại đất sét đồi mà là đất sét thường có độ tơi bở cao được làm nhỏ để có thể lấp đầy vào các khe hở, từ đó tăng cường kết cấu của bức tường.

Đoạn thân tường thứ hai: Bắt đầu từ vị trí kết thúc của đoạn phía Bắc, điểm bắt vuông góc chạy thẳng xuống phía Nam dài 6,2m rộng 0,8m, nằm lệch so với đoạn phía Bắc 78cm về phía Đông.

Vết tích của đoạn thứ hai còn lại không đầy đủ như đoạn phía Bắc, chỉ còn nửa thân tường ở phía Đông, nửa thân tường phía Tây đã bị phá huỷ hoàn toàn không còn dấu vết. Tại vị trí cao nhất ở phần phía Đông là 44cm với 8 lượt gạch chồng xếp lên nhau. Về cơ bản đoạn 2 có kỹ thuật xây dựng giống như đoạn 1. Tuy nhiên có một vài điểm khác biệt sau:

Thân tường được xây cao hơn so với tường ở phía Bắc là 27cm, bắt đầu từ móng gia cố, tương đương với phần giật cấp của đoạn phía Bắc. Tức là đoạn tường ở đoạn 2 không có phần giật cấp mà xây thẳng lên thân tường. Đây là một điểm đáng chú ý, mặt khác tại vị trí bắt vuông góc với bức tường ở phía Bắc điểm kết nối không ăn nhập theo hàng chồng đè lên nhau mà dường như bức tường phía Nam được tạo dựng khi bức tường ở phía Bắc đã có từ trước đó. Nếu quan sát kỹ thuật chồng xếp ở đoạn phía Bắc, ngói được sử dụng nhiều hơn và theo từng lượt cứ một hoặc hai hàng gạch thì có một hàng ngói xen cài vào trong khi đó đoạn tường ở phía Nam lại không có hiện tượng này. Như vậy, hai đoạn tường này không được xây dựng cùng nhau, đoạn tường phía Nam được xây dựng và mở rộng ở giai đoạn sau và kết nối với đoạn tường ở phía Bắc tạo thành một bức tường chung nhưng không trên một đường thẳng.

TAATB020 là loại tường bao có cấu trúc khác lạ so với những tường bao tìm thấy tại khu di tích, ngoài phần móng tường không có sự gia cố cẩn thận, ở đây cũng không thấy có việc xây dựng hàng gạch hoa chanh ở dưới chân tường. Cấu trúc thân tường của TAATB020 cũng cung cấp cho chúng ta những thông tin rất quan trọng về kỹ thuật xây dựng. Hai mặt tường được xây xếp bằng gạch, ngói, trong lõi được đầm chèn bằng các loại phế liệu xây dựng và đất. Đây là kỹ thuật rất phổ biến trong xây dựng tháp Chàm, những dấu vết còn lại của các bức tường khác cho thấy có thể thân của tường bao đều được xây dựng theo kỹ thuật này.

d) Tường bao TAATB023

Dấu vết còn lại là một phần của chân tường xếp gạch hình hoa chanh chạy theo chiều Đông – Tây, phần phía Đông bị cắt phá bởi giếng LEAGI011, đầu phía Tây tiếp tục chạy vào trong vách Tây và kéo dài sang hố A14. Di tích phân bố trong phạm vi có tọa độ X: 141 đến X:142; Y:-125 đến -130. Các dấu vết còn lại của TAATB023 là một phần gia cố móng tường và phần chân tường xếp gạch hình hoa chanh dài 3,4m, rộng 0,5m. Đây là phần chân tường ở phía Bắc của bức tường được xếp bằng gạch theo kỹ thuật nêm cối. Các dấu vết còn lại cho thấy, tường bao TAATB023 có cấu trúc giống như tường bao TAATB005 và TAATB006.

Hình 15 - 16: Dấu tích giếng nước TAAGI002 và tường bao TAATB005 thời Trần ở khu A. 
(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

2.4.2. Di tích tường bao ở khu B

Dấu vết tường bao còn lại được phát hiện tại hố B3, trong khu vực có tọa độ X: 92 – 93,5 ; Y : -183 đến Y: -189, kí hiệu TAATB058. Tường bao này nằm theo chiều Đông Tây, dài còn lại 5,24m và rộng 0,51m, còn tương đối rõ các lớp gạch bìa bó móng tường, dưới chân xếp gạch ngói hình hoa chanh, giữa các cánh hoa được chèn đầy bằng ngói. Tường bao TABTB058 có cấu trúc giống như tường bao TAATB005 và TAATB006 ở khu A, tuy nhiên, hoa chanh dưới chân tường được ghép bằng các loại ngói chứ không phải bằng gạch như ở TAATB005 và TAATB006. Kiểu dùng ngói để xếp hình hoa chanh ở dưới chân tường cũng đã tìm thấy ở một số tường bao ở khu D và nhiều nơi khác như ở Tam Đường (Thái Bình), Đoan Môn và 62-64 Trần Phú (Hà Nội),... Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, kỹ thuật này thường được sử dụng vào đầu thời Trần và suy giảm vào cuối thời Trần, sau đó nó được thay thế bằng kiểu xếp bằng gạch như ở TAATB005 và TAATB006. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các loại ngói sử dụng để ghép hoa chanh ở TABTB058 chúng tôi nhận thấy, ngói được sử dụng làm nguyên liệu ghép cũng hết sức đa dạng, trong đó chủ yếu là ngói phẳng gồm ngói mũi sen và ngói mũi lá. Điều đáng chú ý là, trong số các loại ngói được sử dụng ở đây có rất nhiều loại ngói mũi lá mỏng, đó là những loại ngói khá điển hình của thời Trần nửa cuối thế kỷ 14. Sự hiện diện của các loại ngói này trong kết cấu chân tường bao TABTB058 và đặc biệt là diễn biến địa tầng và mối quan hệ của TABTB058 với các di tích xung quanh đã cho phép xác định TABTB058 có niên đại khoảng nửa cuối thế kỷ 14. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, việc sử dụng gạch hay ngói làm vật liệu để xếp hoa chanh không thể là tiêu chí duy nhất để xác định niên đại của di tích.

2.5. Di tích cống/rãnh nước

2.5.1 Di tích cống/rãnh nước ở khu A

Có tổng cộng 03 di tích cống/rãnh nước thời Trần đã được phát hiện tại khu A gồm TAARN007, TAARN008 và TAARN014. Trong đó, TAARN007 là cống nước có liên hệ chặt chẽ với kiến trúc TAAKT003 và tường bao TAATB005. Cống nước này nằm trong tổng thể của quần thể kiến trúc của kiến trúc TAAKT003 và tường bao TAATB005, đóng vai trò thoát nước từ khu vực sân phía Nam về sân phía Đông của kiến trúc TAAKT003.

2.5.2. Di tích cống/rãnh nước ở khu B

Tại khu B có tổng cộng 07 cống/rãnh nước được phát hiện, ký hiệu như sau TABRN037, TABRN042, TABRN043, TABRN045, TABRN053, TABRN055, TABRN056 (xem Hình 18-19).

a) Cống nước TABRN037

Cống được phát hiện tại khu vực hố B12, trong phạm vi có tọa độ X144 đến X145; Y-190 đến Y-192. Cống TABRN037 được xây dựng để thoát nước cho sân gạch TABSG035 và đổ nước vào cống LYBRN070. Dấu vết cống còn lại dài 1,1m, được xây xếp bằng loại gạch điển hình của thời Trần. Đây là cống có mặt cắt ngang hình chữ nhật, thành xếp một hàng gạch nghiêng, đáy lót một lớp gạch, nắp đậy gạch. Gạch xây cống là loại gạch hình chữ nhật màu đỏ, xương mịn, kích thước trung bình dài 37-39cm, rộng 19-21cm, dày 4-5cm.

b) Cống nước TABRN042

Cống TABRN042 được phát hiện tại hố B12, trong khu vực có tọa độ X: 138 đến 139; Y -175 đến -184, ở độ sâu trung bình 120cm-150cm so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ từ 7370mm đến 7570mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 2.

Cống TABRN042 chạy dài theo hướng Đông – Tây, dấu vết còn lại dài 6,20m, nằm đè lên trên sân gạch TABSG033 ở phía Bắc; đè lên và cắt phá các móng trụ MT02, MT03 và MT04 thuộc kiến trúc TABKT038.

Dấu vết còn lại của cống TABRN042 là một đoạn được xếp bằng các khẩu cống làm sẵn bằng đất nung, chạy theo hướng Đông – Tây dài 6,20m. Phần còn lại bị chia cắt thành hai đoạn do việc xây dựng giếng nước LEBGI015 của thời Lê. Việc xây dựng giếng nước này đã cắt phá cống nước TABRN042 thành hai đoạn và đã làm biến dạng phần còn lại, khiến hai phần của cống như có xu hướng đổ nước vào trong giếng. Các đoạn cống được ký hiệu TABRN042A và TABRN042B.

Đoạn thứ nhất (TABRN042A): Dài 1,53m, được ghép bởi 06 khẩu. Các khẩu cống khi mới được làm xuất lộ đã bị dập nhưng vẫn giữ được nguyên dáng.

Đoạn thứ hai (TABRN042B): Dài 2,20m theo chiều Đông – Tây, nằm cách đoạn thứ nhất 2,47m về phía Tây, được ghép bằng 08 khẩu cống. Các khẩu cống đã bị vỡ dập, thậm chí là mất cả các mảnh vỡ từ trước khi được làm xuất lộ, điều này cho thấy lớp đất phủ trên của cống đã bị xáo trộn.

Các khẩu cống có dáng hình trụ tròn màu đỏ, thân tròn đều, dài trung bình 25cm-27cm; phần đuôi thót lại, dài trung bình 1,5cm-2cm; dày trung bình 0,8cm-1,1cm, đường kính trung bình từ 18cm-20cm. Các khẩu cống được làm theo kỹ thuật bàn xoay, chất liệu đất sét, pha cát. Kiểu cống nước này giống với cống nước TABRN055 ở khu vực hố B3.

Nhìn chung, những gì còn lại của cống TABRN042 cho phép nhận diện một phần diện mạo và chức năng của nó. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện có không đủ để hiểu đầy đủ cấu trúc tổng thể của cống nước cũng như các công trình liên quan đến nó.

TABRN042 thoát nước cho khu vực hoặc công trình nào là vấn đề còn bỏ ngỏ do không có đủ cơ sở để xem xét và kết luận.

Dựa vào các dấu vết còn lại cũng như diễn biến địa tầng có thể suy đoán cống nước được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ 14, nó được xây dựng sau sân gạch TABSG033 và xây dựng trước sân gạch TABSG034.

c) Cống nước TABRN053

Cống nước TABRN053 được phát hiện tại khu vực gần tiếp giáp vách Bắc của hố B3 mở rộng, trong khu vực có tọa độ X 107 đến X108, Y 181 đến 186, ở độ sâu trung bình 1,2m-1,5m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ 7250mm đến 7420mm so với mực nước biển.

Dấu vết còn lại của cống TABRN053 là một phần được xếp bằng ngói âm và ngói úp. Cống dài 4,96m, theo chiều Đông – Tây, hiện đã bị dập vỡ do bị đè lén từ bên trên, lòng lấp đầy bùn đất.

TABRN053 được xếp theo lối úp hai mặt cong của ngói vào nhau, phần cong giữa tạo thành lòng cống. Cấu trúc gồm 2 hàng ngói (hàng trên và hàng dưới), các viên ngói có kích thước không giống nhau.

- Hàng dưới: Ngói được xếp tạo thành đáy và một phần của thành cống. Hàng này còn lại 11 viên, trong đó có 05 viên có kích thước lớn (dài/rộng/dày/sâu lòng (cm): 47-60/29-32/2-2,2/8-12); 06 viên có kích thước nhỏ (dài/rộng/dày/sâu lòng (cm): 30-33/24-32/1,5-2,2/6,5-8) xếp theo kiểu gối đầu lên nhau (đầu nhỏ của viên này gối lên đầu to của viên kia).

- Hàng trên: Hàng trên đảm nhận 1 phần chức năng của thành cống và là nắp cống. Hàng này còn lại 08 viên, trong đó có 03 viên kích thước lớn (dài/rộng/dày/sâu lòng (cm): 46-56/25-31/1-1,5/6,5-8,5).

Các loại ngói sử dụng để xây cống có màu đỏ, xương mịn, làm bằng kỹ thuật khuôn sau đó có chỉnh sửa bằng việc cắt gọt. Đây là những loại điển hình của ngói thời Lý, Trần.

TABRN053 thoát nước cho khu vực hoặc công trình nào là vấn đề còn bỏ ngỏ do không có đủ cơ sở để xem xét và kết luận.

Dựa vào các dấu vết còn lại cũng như diễn biến địa tầng có thể suy đoán cống nước được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ 14, thậm chí nó có thể là những công trình cuối cùng của nhà Trần được xây dựng tại Thăng Long.

d) Cống nước TABRN055

TABRN055 là một đoạn cống được xếp bằng các khẩu cống nước làm sẵn bằng đất nung và ngói ống (ngói dương). Phần còn lại của cống dài 4,24m, theo chiều Đông – Tây, phần lớn các khẩu cống đã bị dập vỡ, một số bị vỡ gần như hoàn toàn, các dấu vết còn lại có thể nhận diện thì cống được khớp bằng 13 khẩu cống làm sẵn và 01 khẩu khớp bằng ngói ống. Các khẩu cống có dáng hình trụ tròn màu đỏ, thân tròn đều, dài trung bình 26cm-30cm, phần đuôi thót lại dài trung bình 1,5cm-2cm, dày trung bình 0,8cm-1,1cm, đường kính trung bình từ 15cm-18,5cm. Các khẩu cống được làm theo kỹ thuật bàn xoay, chất liệu đất sét, pha cát.

Có 01 khẩu được ghép bằng 02 viên ngói ống lợp thân mái, ngói có hình bán trụ tròn, thân tròn đều, đuôi liền với thân, độ dày của đuôi bằng 1/2 độ dày của thân. Đây là kiểu ngói ống lợp thân mái phổ biến của thời Trần.

Cống nước TABRN055 chắc chắn được xây dựng nhằm thoát nước cho một công trình nào đó nằm ở phía Tây, tuy nhiên đó là công trình nào thì các dấu vết hiện còn chưa đủ bằng chứng để trả lời câu hỏi đó.

Qua diễn biến địa tầng, có thể nhận thấy cống TABRN055 nằm đè lên trên sân gạch TABSG054 và phân tách với sân gạch qua 1 lớp đất dày trung bình từ 10-15cm. Điều này cho thấy rõ rằng, cống TABRN055 được xây dựng sau khi sân gạch TABSG054 và các kiến trúc liên quan dến sân gạch này không còn tồn tại.

Mối liên hệ giữa cống TABRN055 và bó nền kiến trúc TABNK052 không thật rõ ràng. Địa tầng và những hiện tượng khác không cho phép xác định cống TABRN055 có cắt qua bó nền kiến trúc TABNK052 hay không, đồng thời cũng không đủ bằng chứng để kết luận cống TABRN055 có kết nối với bó nền kiến trúc TABNK052. Nhưng quan sát các hiện tượng có thể khẳng định, mối liên hệ giữa cống TABRN055 và bó nền kiến trúc TABNK052 chỉ có thể có hai khả năng, thứ nhất là chúng được xây dựng cùng thời, hoặc thứ hai là được xây sau và không có liên hệ trực tiếp với bó nền kiến trúc TABNK052.

Một hiện tượng đáng lưu ý khác, như trên đã trình bày, theo cách sắp xếp của các khẩu cống thì có thể suy đoán rằng, cống TABRN055 chảy nước từ phía Tây qua phía Đông, như vậy là đổ nước vào khu vực phía Đông của bó nền kiến trúc TABNK052. Việc cống TABRN055 nằm cao hơn mặt nền phía Đông của bó nền kiến trúc TABNK052 về mặt kỹ thuật hoàn toàn hợp lý cho việc thoát nước, nhưng về mặt mỹ thuật và đặc biệt về kết cấu thì không hợp lý do nó nằm cao hơn bề mặt của cấu trúc bó nền kiến trúc TABNK052B. Do đó, có thể suy đoán rằng, cống TABRN055 không có mối quan hệ trực tiếp với bó nền kiến trúc TABNK052, hay nói cách khác, bó nền kiến trúc TABNK052 được xây dựng sau cống nước TABRN055. Khi xem xét mối liên hệ của cống TABRN055 với các di tích khác chúng ta có thể thấy rõ cần phải làm rõ mối quan hệ của di tích này với sân gạch TABSG054 và bó nền kiến trúc TABNK052.

Mặc dù đã nhận diện được một phần diện mạo và chức năng của cống TABRN055, nhưng không đủ cơ sở để có thể hiểu cấu trúc tổng thể cũng như mối quan hệ của nó với các công trình liên quan. TABRN055 thoát nước cho khu vực hoặc công trình nào là vấn đề còn bỏ ngỏ do không có đủ cơ sở để kết luận.

Dựa vào các dấu vết còn lại cũng như diễn biến địa tầng có thể suy đoán rằng, cống nước được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ 14. Nó được xây dựng sau sân gạch TABSG054 và xây dựng trước bó nền kiến trúc TABBNK052.

 

Hình 17: Dấu tích tường bao thời Trần - TAAB020 ở phía Nam khu A. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

 

 

2.6. Di tích bồn hoa

Di tích bồn hoa mới chỉ được xác định ở khu B, khu A chưa xác định 

 
 
 
 

Hình 18 - 19: Các loại cống nước thời Trần ở khu B.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   

được loại hình di tích này. Tại khu B mới xác định được 06 di tích

bồn hoa, trong đó có 01 di tích đã được đánh ký hiệu TABBH061, 05 di tích còn lại nằm trong hệ thống với sân gạch TABSG031 (xem Hình 20).

a) Bồn hoa TABBH061

Bồn hoa TABBH061 được phát hiện tại khu vực tiếp giáp vách Bắc của hố B5 mở rộng, trong khu vực có tọa độ X: 92 đến X:93,5; Y-183 đến Y-185, ở độ sâu trung bình 1,5-1,7m so với mặt đất trước khi khai quật, tức cao độ 7380mm đến 7390mm so với mực nước biển, tương ứng lớp đào thứ 5-6.

Dấu vết còn lại được xác định là phần còn lại của bồn hoa có cấu trúc mặt bằng hình vuông (1,35x1,35m), xung quanh được bao quanh bởi 1 hàng gạch xây nghiêng. Dấu vết còn lại gồm hàng gạch bao quanh ở phía Tây, một phần hàng gạch bao quanh ở phía Nam và lớp đất trong lòng.

Lớp đất trong lòng: Cấu tạo của đất trong lòng bồn cây cho thấy bồn cây cắt vào phần nền sét đắp nền của kiến trúc LYBKT036. Diễn biến tầng đất trong lòng bồn hoa cụ thể như sau:

- Đáy (dưới cùng) là lớp đất sét vàng loang lổ, vốn là đất đắp nền của kiến trúc LYBKT036.

- Lớp thứ nhất: Dày trung bình 20-25cm (tính từ mặt trên của lớp đáy) là lớp đất màu đen, lẫn nhiều than tro, rất tơi xốp.

- Lớp thứ 2: trên cùng, là lớp đất lẫn các loại gạch ngói và các vật liệu khác phủ đè lên trên, xem giữa là đất màu đen. Trong đó đáng lưu ý, các viên ngói ở dưới đáy của lớp này, nơi tiếp giáp với mặt của lớp thứ nhất. Các viên gạch, ngói đều nằm phẳng với mặt đất nhưng không có quy luật, hiện tượng này khiến nhiều người khi mới quan sát đã cho đó là những viên gạch, ngói lát đáy. Tuy nhiên, có thể khẳng định, đó không phải là lót đáy vì các

viên gạch, ngói này nằm không theo quy luật và không xếp liền sát nhau.

b) Hệ thống bồn hoa ở dọc sân TABSG031

Dọc theo phía Tây của sân gạch TABSG031 tìm thấy 05 dấu vết bồn hoa. Các bồn hoa này có mặt bằng hình vuông, kích thước trung bình 70cm-75cm x 70cm-75cm. Xung quanh được xếp hai lớp gạch nghiêng. Khoảng cách mỗi bồn hoa cách nhau trung bình khoảng từ 2,3m đến 2,5m.

Các dấu vết còn lại cho thấy, bồn hoa được xây dựng khi sân TABSG031 được sửa chữa và nâng cấp vào thời Trần. Quá trình sửa chữa sân TABSG031 gắn liền đến việc cải tạo lại khu vực này với việc lấp rãnh nước

LYBRN040, mở rộng sân về phía Tây và sửa chữa cống nước LYBRN070 để làm thoát nước trong khu vực, thay thế cho rãnh nước LYBRN040. Các bồn hoa được bố trí ở giữa khoảng sân TABSG031 và rãnh nước LYBRN070.

Việc phát hiện hệ thống bồn hoa nằm xen kẽ giữa các kiến trúc tại khu di tích lần đầu tiên cho chúng ta những thông tin về bố cục cảnh quan xung quanh các công trình kiến trúc cung điện thời Trần trong Hoàng cung Thăng Long xưa.

          
Hình 20 - 21: Bồn hoa và dấu tích kiến trúc thời Trần ở khu B. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

III. NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ KIẾN TRÚC THỜI TRẦN Ở KHU A-B

1. Sự thay đổi quy hoạch Thăng Long của nhà Trần

Những bằng chứng tại khu di tích cho thấy rất rõ rằng, vào giai đoạn đầu, nhà Trần dường như có sự kế thừa gần như nguyên vẹn hệ thống các công trình kiến trúc của thời Lý. Điều này cũng có nghĩa là nhà Trần đã giữ nguyên qui hoạch của Thăng Long thời Lý. Nhưng vào các giai đoạn sau, nhà Trần đã có sự thay đổi về mặt qui hoạch. Việc thay đổi này thể hiện rõ qua việc tìm thấy những công trình kiến trúc, đặc biệt là tường bao được xây dựng chồng xếp lên trên hệ thống kiến trúc thời Lý. Các công trình kiến trúc mới, đặc biệt là việc xây dựng các bức tường đã làm thay đổi cấu trúc phân khu ở khu A-B, dường như các không gian kiến trúc ở đây được chia nhỏ hơn so với thời Lý.

Các công trình mới của nhà Trần đã phá bỏ các công trình cũ của thời Lý như việc đào hồ nước ở đầu phía Nam của kiến trúc LYAKT004 hay xây dựng giếng nước và tường bao bên cạnh tường bao thời Lý LYATB014 và kiến trúc Lý LYAKT019. Đây là những bằng chứng rõ ràng cho thấy, nhà Trần đã không còn sử dụng các công trình của nhà Lý nữa mà đã tiến hành xây mới theo một quy hoạch khác.

2. Sự kế thừa và sự phát triển về kỹ thuật xây dựng của nhà Trần 

2.1. Kỹ thuật gia cố móng trụ và kỹ thuật xử lý nền móng

Kiến trúc thời Trần ban đầu tiếp tục sử dụng kỹ thuật gia cố móng trụ và nền móng kiến trúc thời Lý trước đó. Tuy nhiên, về cơ bản vật liệu sử dụng để gia cố đã có những thay đổi. Nếu như thời Lý vật liệu gia cố móng gồm sỏi (chủ yếu), gạch, ngói (ngói là chính) và đất sét thì đến thời Trần, vật liệu để đầm móng chủ yếu là gạch, ngói. Nhưng cần lưu ý rằng, đó chỉ là hiện tượng tại khu A-B. Nếu nhìn rộng ra các di tích thời Trần khác có thể thấy, dưới thời Trần việc sử dụng sỏi và đất sét để gia cố móng trụ cũng khá phổ biến. Do vậy, việc sử dụng gạch, ngói làm vật liệu gia cố móng trụ ở khu A-B có thể được giải thích là do gạch ngói đã có rất sẵn tại chỗ và bản thân các loại gạch ngói đó đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật nên thay vì phải đi vận chuyển sỏi ở nơi khác về người ta đã tận dụng chính những gạch ngói vỡ để làm vật liệu.

Về kỹ thuật thi công của thời Trần, nhất là ở giai đoạn cuối thời Trần cũng có nhiều điểm khác so với thời Lý. Thời Lý và giai đoạn đầu thời Trần nhìn chung kỹ thuật đầm móng trụ được tiến hành theo quy trình khá chặt chẽ là đầm từng lớp dày trung bình từ 3-5cm theo thứ tự lớp đất sét rồi đến sỏi hoặc gạch ngói. Do sỏi và gạch ngói có độ cứng hơn đất nên khi đầm gạch ngói và sỏi sẽ chìm lẫn vào trong lớp đất sét tạo thành một hỗn hợp sỏi sét, trong đó đất sét có chức năng giống như là chất kết dính các viên sỏi lại tạo thành một kết cấu cứng. Kỹ thuật này càng về sau càng bị đơn giản hóa. Móng nói chung và móng trụ được đầm bằng ngói nói riêng không được đầm từng lớp đều nhau như trước. Các lớp gia cố thường dày mỏng không đều nhau nên khi đầm phần bề mặt của lớp bị vỡ vụn nhưng ở phía dưới lại thường bị hổng. Đất sét hầu như không được sử dụng như trước nữa.

2.2. Kỹ thuật xây dựng tường bao

Tường bao tìm thấy ở khu A-B có hai kiểu cơ bản: (1) Kiểu thứ nhất là tường bao chân rộng và thường được xếp bằng gạch theo kiểu hoa chanh. Các tường bao TAATB005, TAATB006, TAATB023 và TABTB058 thuộc kiểu tường bao này; (2) Kiểu thứ hai là kiểu không có chân (không xây dựng hàng gạch hoa chanh ở dưới chân tường), tiêu biểu là tường bao TAATB020. Cả hai loại tường bao đều được xây dựng theo kỹ thuật là móng xây xếp bằng gạch hoặc đầm bằng ngói, mặt tường xây bằng gạch, trong lòng đầm bằng đất sét hoặc đất cùng gạch ngói, mái lợp ngói.

Đối với loại tường bao có chân, phần chân được xếp bằng gạch hoặc ngói. Chân vừa là một giải pháp kỹ thuật bảo vệ chân tường, nhưng đồng thời phần chân tường được xây xếp nghệ thuật trang điểm cho bức tường. Phần chân được chia thành các ô hình vuông nối tiếp nhau dọc theo chân tường, trong xếp gạch, hoặc ngói nghiêng theo kỹ thuật nêm cối, các mảnh ghép tạo thành hình theo mô típ hoa chanh, kiểu mô típ khá phổ biến trên đồ gốm thời Trần.

Việc xác định được đặc trưng này giúp chúng ta nhận thức lại một số dấu vết kiến trúc thời Trần có cấu trúc tương tự mà trước đây thường được cho là đường đi. Trước tiên và trực tiếp là việc xác định lại tính chất dấu vết kiến trúc thời Trần ở Đoan Môn được phát hiện năm 1998. Trước đây, dấu vết này được cho là "đường đi" và nó chính là một phần của con đường thời Trần từ Đoan Môn vào Điện Thiên An. Đây là cơ sở rất quan trọng để đi đến một kết luận quan trọng khẳng định trục trung tâm của Thăng Long thời Trần và thời Lê là không thay đổi, đồng thời suy đoán điện Kính Thiên thời Lê được xây dựng trên nền cũ của điện Thiên An thời Trần và điện Càn Nguyên thời Lý. Nhưng với những nhận thức mới về cấu trúc của tường bao phát hiện tại khu A-B nói riêng và Hoàng thành Thăng Long nói chung có thể khẳng định, di tích thời Trần ở Đoan Môn không phải là "con đường đi" mà đó chính là dấu vết còn lại của một móng tường bao rất lớn thời Trần. Đây là loại tường bao có chân xếp gạch hình hoa chanh. Từ kết luận này cho thấy, vấn đề trục trung tâm của Thăng Long thời Trần cần phải xem xét lại. Tương tự như vậy, các kết quả nghiên cứu ở đây cũng cho phép nhận thức lại các dấu vết được cho là đường hoa chanh tìm thấy tại Cồn Nhân thuộc khu Tam Đường (Thái Bình). Nghiên cứu lại các tư liệu có thể thấy, các dấu vết được gọi là đường hoa chanh tìm thấy ở đây đều là dấu vết của tường bao.

2.3. Kỹ thuật xây dựng hệ thống cống/rãnh nước

Bên cạnh hệ thống cống, rãnh nước được xây xếp bằng các loại gạch thì đến thời Trần xuất hiện loại cống được xếp bằng các khẩu ống cống làm sẵn mang tính chuyên dụng. Kỹ thuật xây dựng rãnh nước bằng các loại gạch cũng có nhiều thay đổi. Loại gạch chuyên dụng trong xây dựng rãnh nước thời Lý không còn được sử dụng ở thời Trần. Các rãnh/cống được xếp chủ yếu bằng các loại gạch chữ nhật. Tùy vào quy mô của cống mà kỹ thuật được lựa chọn cho phù hợp. Với những cống/rãnh quy mô lớn thì thành cống thường được xây dựng theo kiểu tường đơn; những cống/rãnh có quy mô nhỏ thành được xây bằng 1 hoặc 2 hàng gạch nghiêng. Với việc lựa chọn kỹ thuật xây dựng một cách linh hoạt như vậy, các công trình thời Trần đã tiết kiệm được rất nhiều vật liệu xây dựng so với công trình có cùng quy mô của thời Lý.

Các dấu vết ở khu A-B cho thấy, nếu như thời Lý sử dụng chủ yếu giải pháp thoát nước bề mặt thì kỹ thuật thoát nước ngầm được sử sụng phổ biến hơn ở thời Trần. Thời Lý, hệ thống thoát nước cục bộ chủ yếu là thoát nước mặt, tức là sử dụng các rãnh thoát nước, trong khi đó thời Trần sử dụng các cống để thoát nước. Việc xuất hiện các cống được ghép bởi các khẩu cống làm sẵn chính là nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật này. Đây là một tiến bộ rất lớn trong kỹ thuật xây dựng của nhà Trần.

2.4. Vật liệu xây dựng thời Trần, những tiến bộ trong công nghệ sản xuất

Vật liệu kiến trúc thời Trần khi nhìn thoáng qua khó phân biệt với vật liệu kiến trúc thời Lý, đặc biệt là giai đoạn đầu thời Trần. Mặc dù chưa có những kết quả chính xác về việc phân loại chỉnh lý các loại hình di vật, nhưng qua việc nghiên cứu các dấu vết kiến trúc thời Trần ở khu A-B bước đầu nhận thấy :

- Đầu thời Trần, việc sử dụng ngói ống như thời Lý còn tương đối phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng phổ biến ngói ống có thể là do việc nhà Trần tôn tạo và sửa chữa các kiến trúc của nhà Lý để tiếp tục sử dụng, vì vậy các loại vật liệu phải có tính ‘’đồng bộ’’ với vật liệu vốn có của kiến trúc.

- Ngói mũi sen được sử dụng rộng rãi và dần thay thế các ngói ống. Điều này có thể thấy khá rõ khi ta so sánh với các di tích thời Trần khác ở ngoài Thăng Long. Những nghiên cứu về di tích thời Trần ở ngoài Thăng Long cho thấy, thời Trần ngói mũi sen sử dụng phổ biến hơn so với ngói ống. Đặc biệt, kiến trúc lăng tẩm, chùa tháp chỉ được lợp bằng ngói mũi sen, không lợp bằng ngói ống[1].

- Vật liệu kiến trúc thời Trần ngày càng được cải tiến theo hướng mỏng và nhẹ những vẫn đáp ứng được yêu cầu về độ bền vật liệu. Nếu như gạch ngói thời Lý và đầu thời Trần thường có kích thước lớn, nhất là độ dày rất lớn. Các loại gạch thường có độ dày trung bình từ 5-7cm; ngói mũi sen dày trung bình 2-3cm thì đến cuối thời Trần, trong các kết cấu sân gạch ở khu B đã thấy xuất hiện các loại vật liệu có kích thước và độ dày giảm đi rất nhiều. Các loại gạch vuông độ dày trung bình không quá 3cm, giảm bằng 1/2 độ dày so với gạch trước đây; các loại ngói cũng giảm dần độ dày xuống còn trung bình từ 1-1,5cm. Các loại gạch ngói đã được giảm độ dày nhưng độ cứng vẫn tương đương, thậm chí cứng hơn so với gạch ngói trước đó. Đây là những dấu hiệu rất quan trọng cho thấy sự phát triển của công nghệ sản xật vật liệu xây dựng cũng như sự tiến bộ của kỹ thuật xây dựng dưới thời Trần. Với việc giảm độ dày của gạch, ngói xuống bằng 1/2 so với trước đây mà vẫn giữ nguyên chất lượng đã cho thấy việc kiểm soát nhiệt độ nung tốt hơn, mặc dù một số loại ngói (nhất là ngói mũi lá có độ dày trung bình nhỏ hơn 1,2cm) vẫn bị cong vênh nhưng nó vẫn thể hiện rõ sự tiến bộ lớn trong kỹ thuật sản xuất vật liệu của thời Trần ở nửa cuối thế kỷ 14. Cùng với việc giảm độ dày của các loại ngói, trọng lượng của các trang trí trên bộ mái cũng được giảm đáng kể do việc thay đổi kỹ thuật chế tạo. Các khối tượng tròn trang trí trên mái như đầu rồng, đầu phượng,... trước đây thường là một khối đặc thì nay được cải tiến thành những khối rỗng. Việc giảm bớt độ dày của các loại vật liệu đặc biêt là ngói đã làm giảm đáng kể trọng lượng của bộ mái của kiến trúc. Và đây có thể là nguyên nhân khiến cho việc xử lý gia cố nền móng không đòi hỏi cẩn thận như trước nữa.

IV. MỘT VÀI NHẬN XÉT THAY LỜI KẾT LUẬN

Khác với thời Lý, dấu tích kiến trúc thời Trần tìm thấy ở khu A-B khu di tích Hoàng thành Thăng Long còn lại rất ít và dường như rất rời rạc và chưa có một công trình nào còn đầy đủ mặt bằng để có thể nhận diện được diện mạo, qui mô, cấu trúc, do đó, việc nghiên cứu đánh giá về kiến trúc thời Trần ở đây là rất khó khăn, phức tạp. Nguyên nhân của hiện tượng này được giải thích rằng, vào giai đoạn đầu triều, nhà Trần cơ bản kế thừa toàn bộ những di sản của nhà Lý để lại, nên dường như không có những công trình xây dựng mới ngoài việc cải tạo và sửa chữa. Nhưng đến giai đoạn sau, khoảng từ cuối thế kỷ 13, đặc biệt từ thế kỷ 14, nhà Trần đã có sự qui hoạch lại Thăng Long và xây dựng nhiều công trình mới. Xem xét những dấu tích còn lại cho thấy, kiến trúc thời Trần giai đoạn này có qui mô không to lớn, không bề thế như kiến trúc thời Lý. Nó đơn giản hơn và có những sắc thái riêng biệt hơn so với thời Lý. Tuy nhiên, những dấu vết kiến trúc này không còn để lại nguyên vẹn đến ngày nay do việc qui hoạch lại Thăng Long diễn ra dưới triều đại Lê sơ.

Những kết quả nghiên cứu mới về hệ thống tường bao thời Trần tại khu A-B không những góp phần làm sáng rõ hơn về qui hoạch không gian trong Hoàng cung Thăng Long thời Trần mà còn cung cấp những luận cứ để xác định lại loại hình di tích vốn từng được xếp vào hệ thống "đường đi" như trường hợp di tích ở Đoan Môn trong khu thành cổ Hà Nội đã nêu trên. Đồng thời, từ cơ sở nghiên cứu này cho thấy, những nghiên cứu đánh giá về trục chính khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long thời Trần và trước đó là thời Lý cần được xem xét lại.

 

            TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Anh 2012: Di tích Thái lăng (Đông Triều, Quảng Ninh), Luận văn Thạc sĩ, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội;
  2. Bùi Minh Trí, Tống Trung Tín 2010: Giá trị nổi bật toàn cầu, tính chân thực và toàn vẹn khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội từ phân tích đánh giá di tích khảo cổ học, Khảo cổ học, số 4, tr. 27-41;
  3. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 1998;
  4. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2007: Về một số dấu tích kiến trúc trong cấm thành Thăng Long thời Lý – Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học, năm 2005 - 2006, Khảo cổ học, số 1;
  5. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2008: Những phát hiện khảo cổ học về Hoàng thành Thăng Long, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế Việt Nam học (Lần thứ ba), Tập IV, Nxb. ĐHQGHN, tr. 548-560;
  6. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2010: Thăng Long - Hà Nội, lịch sử nghìn năm từ lòng đất, Nxb. KHXH;
  7. Việt sử lược (bản dịch của Trần Quốc Vượng), Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2005.

 


[1] Nguyễn Văn Anh 2012: Di tích Thái lăng (Đông Triều, Quảng Ninh), Luận văn Thạc sĩ, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nguyễn Văn Anh

(Thông báo Khoa học năm 2014)