Bảo tồn đồ gỗ Khu di tích Hoàng thành Thăng Long - Kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra

07/05/2016

Cuộc khai quật khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2002-2004 và cuộc khai quật khu vực xây dựng Nhà Quốc hội 2008-2009 đã lấy lên khỏi lòng đất một số lượng lớn với 3.291 di vật gỗ. Những di vật này có rất nhiều loại, nhiều niên đại sớm muộn khác nhau và được phân thành 6 nhóm sau: (a) Nhóm 1: Đồ gỗ liên quan đến việc xây dựng các công trình kiến trúc nhà ở, tường bao, hệ thống tiêu thoát nước (cọc cừ, ván ghép, ván tấm, gỗ kè móng…); (b) Nhóm 2: Đồ gỗ liên quan đến các cấu kiện của công trình kiến trúc (cột, vì kèo, đầu dư, ván dong, đấu củng, mảng trang trí, song cửa, lan can, cầu thang…); (c) Nhóm 3: Đồ gỗ là các loại dụng cụ dùng cho nghề mộc hay phục vụ xây dựng công trình (bào, dùi đục, vồ đập đất, cuốc, mai…); (d) Nhóm 4: Đồ gỗ dùng trong đời sống sinh hoạt thường nhật (hộp, bình, gầu múc nước, gáo dừa múc nước, kiệu rước, khay sơn mài, thoi dệt vải, guốc mộc, thuyền…);...

GIỚI THIỆU CHUNG

Cuộc khai quật khu di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2002-2004 và cuộc khai quật khu vực xây dựng Nhà Quốc hội 2008-2009 đã lấy lên khỏi lòng đất một số lượng lớn với 3.291 di vật gỗ. Những di vật này có rất nhiều loại, nhiều niên đại sớm muộn khác nhau và được phân thành 6 nhóm sau:

(a) Nhóm 1: Đồ gỗ liên quan đến việc xây dựng các công trình kiến trúc nhà ở, tường bao, hệ thống tiêu thoát nước (cọc cừ, ván ghép, ván tấm, gỗ kè móng…);

(b) Nhóm 2: Đồ gỗ liên quan đến các cấu kiện của công trình kiến trúc (cột, vì kèo, đầu dư, ván dong, đấu củng, mảng trang trí, song cửa, lan can, cầu thang…);

(c) Nhóm 3: Đồ gỗ là các loại dụng cụ dùng cho nghề mộc hay phục vụ xây dựng công trình (bào, dùi đục, vồ đập đất, cuốc, mai…);

(d) Nhóm 4: Đồ gỗ dùng trong đời sống sinh hoạt thường nhật (hộp, bình, gầu múc nước, gáo dừa múc nước, kiệu rước, khay sơn mài, thoi dệt vải, guốc mộc, thuyền…);

(e) Nhóm 5: Đồ gỗ thuộc dạng tự nhiên như thân cây, cành cây (các loại cành cây, gốc tre, các loại cây thân mềm…);

(f) Và nhóm 6: Đồ gỗ chưa hoặc không xác định được chức năng.

 

Hình 1: Khai quật con thuyền gỗ thời Lê sơ, khu vực lòng sông nằm giữa khu A-B.
Ảnh: Bùi Minh Trí

 

Ngoài số lượng đồ gỗ nói trên, trong lòng các hố khai quật tại các khu A,B,C,D hiện vẫn đang bảo tồn nguyên trạng nhiều loại gỗ. Đó là các loại cọc gỗ, các loại cột gỗ và các gỗ khúc dùng kê móng cột âm của các công trình kiến trúc thời Đại La và thời Đinh - Tiền Lê và nhiều cọc gỗ, cột gỗ (thuộc loại cột âm) của kiến trúc thời Lý. Bên cạnh đó, tại khu vực lòng sông ở khu A-B còn có cánh cửa và thuyền gỗ thời Lê sơ.

Sau khi kết thúc công tác tái điều tra khai quật và nghiên cứu khảo cổ học, phần lớn các loại cọc gỗ, gỗ kê móng cột hay cột âm của kiến trúc thời Đại La và thời Đinh - Tiền Lê đều đã được lấp đất bảo tồn tại chỗ. Dấu tích con thuyền gỗ và cánh cửa gỗ thời Lê sơ cũng đã được lấp cát bảo tồn nguyên trạng dưới lòng đất (Hình 1, 4-5). Riêng các cọc và cột gỗ thời Lý thì một phần được lấp đi, một phần vẫn để lộ thiên trên mặt đất.

Sở dĩ các loại gỗ của thời Đại La và thời Đinh - Tiền Lê hay thuyền gỗ và cánh cửa gỗ thời Lê sơ phải bảo tồn nguyên trạng bằng phương pháp lấp cát, vì các di vật này đều nằm sâu dưới đất, thấp hơn cao độ so với mặt bằng di tích thời Lý, Trần đang bảo tồn lộ thiên hiện nay.[1] Mặt khác, đây vốn là loại hình di tích, di vật rất khó di chuyển để bảo tồn (vì đã bị mục nát, bị mủn vỡ) và nếu đưa lên khỏi lòng đất thì rất khó giữ nguyên trạng thái, đặc biệt vấn đề bảo tồn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, trong khi chưa tìm ra giải pháp phù hợp, cách tốt nhất là phải đóng lại di tích, bảo tồn nguyên trạng dưới lòng đất, khi nào có đủ điều kiện sẽ xem xét đến khả năng bảo tồn trong phòng thí nghiệm.

Như vậy, công tác bảo tồn đồ gỗ khu di tích Hoàng thành Thăng Long từ lâu đã được phân ra làm hai nhóm như sau:

- Đồ gỗ được bảo tồn nguyên trạng tại chỗ dưới lòng đất tại khu vực phát lộ.

- Đồ gỗ được bảo tồn trong hệ thống bể ngâm và hộp bảo quản đặc biệt.

Tùy theo từng loại gỗ và dựa vào đặc điểm của loại gỗ, việc bảo tồn đồ gỗ của khu di tích được áp dụng với những hình thức khác nhau, trong đó, điểm mấu chốt là phải duy trì được độ ẩm, trong môi trường ngậm nước, hạn chế tối đa sự co ngót, biến dạng của đồ gỗ.

Từ những đặc điểm về tình hình phát hiện di vật gỗ của khu di tích nói trên, năm 2010 và 2011 chúng tôi đã phối hợp với nhóm chuyên gia của trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các chuyên gia bảo tồn của Nhật Bản tiến hành điều tra khảo sát nhằm đánh giá tổng thể về tình trạng bảo tồn đồ gỗ, bao gồm đồ gỗ lấy lên từ lòng đất trong quá trình khai quật đang được bảo quản khô hoặc ngâm nước trong các thùng/hộp nhựa chuyên dụng, bảo quản ngâm trong bể nước và những đồ gỗ đang bảo tồn nguyên trạng tại khu di tích A,B,D.

Các di vật gỗ được bảo quản trong thùng/hộp nhựa và trong các bể ngâm nước tại khu C,D được thực hiện theo qui trình bảo tồn đồ gỗ, thường xuyên kiểm tra theo định kỳ 2 lần/tháng và tiến hành xử lý nước sạch, theo dõi sự biến đổi màu sắc của nước cũng như sự thay đổi về hình thái của đồ gỗ ngâm trong các bể.

Các di vật gỗ được bảo quản khô trong hộp cơ bản khá ổn định và cũng được theo dõi, xử lý bảo tồn theo định kỳ 2 lần/tháng.

Vấn đề đáng quan tâm nhất là việc bảo tồn những đồ gỗ ngoài khu di tích. Các đồ gỗ được bảo tồn nguyên trạng dưới lòng đất tuy về cơ bản đảm bảo được việc giữ độ ẩm, ngậm nước, hạn chế được tình trạng co ngót, nứt vỡ hoặc biến dạng hình thái, nhưng cũng đang tiềm ẩn rất nhiều vấn đề về bảo tồn. Kết quả kiểm tra thí điểm cánh cửa gỗ thời Lê được bảo tồn tại chỗ tại khu vực thềm sông ở khu B năm 2009 cho thấy, cánh cửa này đã có rất nhiều thay đổi từ sau khi bảo tồn (Hình 4-5). Các cọc gỗ, cột gỗ của kiến trúc thời Lý đang bán lộ thiên cho thấy rõ các hiện tượng về bảo tồn ở đây rất đáng được lưu ý. Đó là tình trạng đồ gỗ bị phá hủy hay bị biến dạng, thay đổi hình thái khi biến đổi môi trường. Đặc điểm di vật gỗ khảo cổ học đều được phát hiện trong môi trường ngậm nước do nằm ngâm mình trong lòng đất nhiều thế kỷ, thuật ngữ chuyên môn gọi là gỗ ngậm nước. Do bị chôn vùi sâu dưới lòng đất trong một thời gian dài như vậy nên hầu hết các cấu trúc hữu cơ trong gỗ cơ bản đã bị phân hủy hay bị phá hủy. Đặc tính này cho thấy rằng, gỗ ngậm nước rất dễ bị biến dạng, co ngót hoặc hư hỏng khi tách ra khỏi môi trường nước. Vì vậy, các đồ gỗ đang bảo tồn ngoài di tích phải thường xuyên duy trì độ ẩm bằng việc tưới nước hay che phủ tạo môi trường kín để giữ độ ẩm của đất.[2]

   

Hình 2 - 3: Công tác xử lý bảo quản đồ gỗ của khu di tích ngay trong quá trình khai quật

Ảnh: Bùi Minh Trí

   

I.  NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BẢO TỒN ĐỒ GỖ

Kết quả điều tra khảo sát tổng thể khu di tích và qua kiểm chứng một số vị trí ở khu A-B cho thấy rõ rằng, các cọc gỗ và cột gỗ ngoài di tích đang có hiện tượng bị biến dạng co ngót, nứt vỡ và mối tấn công thân gỗ. Hiện tượng này là một hệ quả có thể giải thích dựa trên những kết quả đo nhiệt độ, độ ẩm, độ nứt nẻ của đất, sự biến đổi khí hậu và mực nước ngầm từ các thiết bị bảo tồn lắp đặt tại khu di tích.

Quan sát bằng mắt thường có thể dễ dàng nhận thấy thân của các cọc gỗ hay cột gỗ có nhiều vết nứt dọc thân hay vết nứt mạnh ở phần đầu. Đây là hiện tượng gỗ bị mất đi lượng nước duy trì liên kết giữa các tế bào dẫn đến tình trạng co ngót, biến dạng. Tuy nhiên, hiện tượng này diễn ra chậm hơn so với đồ gỗ lấy lên khỏi lòng đất bởi một phần thân gỗ đó vẫn chôn xuống đất, nói cách khác, thân gỗ vẫn được duy trì được độ ẩm cần thiết nhờ tiếp xúc với độ ẩm của đất. Nhưng vào mùa hanh khô và mùa nắng, độ ẩm trong không khí thấp kích thích hiện tượng bốc hơi nước nhanh, do đó hiện tượng co ngót, nứt vỡ diễn ra mạnh hơn, nhanh hơn. Đây là một trong những khó khăn, thách thức lớn trong việc bảo tồn đồ gỗ ngoài di tích. Bởi lẽ, khi thân gỗ đã bị nứt vỡ và biến dạng, dù sau đó có làm các phương pháp bảo tồn thì cũng rất khó khăn, không thể mang lại hình dạng và trạng thái xuất lộ ban đầu cho hiện vật.

Bên cạnh hiện tượng co ngót, biến dạng, tại nhiều vị trí cho thấy mối đang tấn công các cột gỗ đang bảo tồn ngoài di tích (Hình 9-11).

Như trên đã nêu, trong lòng hố khai quật ở khu A-B, ngoài những cột gỗ đang lộ thiên (có thể nhìn thấy), rất nhiều đồ gỗ khác đang được bảo tồn dưới lòng đất (không nhìn thấy). Do điều kiện khí hậu nóng ẩm thất thường như khu vực Hà Nội, đặc biệt vào mùa mưa, độ ẩm tăng lên sẽ là môi trường thuận lợi để các tổ mối phát triển và các chất hữu cơ trong gỗ là thức ăn hấp dẫn để chúng tồn tại. Khảo sát ở khu B đã phát hiện nhiều ổ mối đang tấn công phá huỷ các cột gỗ đã lấp đất. Hiện tượng này cho thấy rằng, các đồ gỗ đã lấp đất bảo tồn dưới lòng đất đang là đối tượng bị đe doạ phá huỷ bởi các ổ mối. Đây là nguy cơ đang và sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, nếu không có giải pháp ngăn chặn kịp thời. Bởi mối sẽ ăn mòn làm rỗng thân gỗ, chỉ còn lại phần vỏ bên ngoài, dần dần hiện vật sẽ bị biến dạng nhanh chóng và dễ dàng bị phá hủy hoàn toàn rồi biến mất trong thời gian tới.

Trước tình trạng nói trên, chúng tôi và các chuyên gia bảo tồn Nhật Bản đã tính đến phương án là phải dùng thuốc diệt trừ mối và các biện pháp phòng ngừa mối. Tuy nhiên, công tác diệt trừ và phòng ngừa mối cũng như côn trùng là giải pháp mang tính lâu dài và cần có sự can thiệp của các cơ quan chuyên môn về lĩnh vực này.

Đối với các loại gỗ được bảo tồn trong môi trường ngâm nước tại các bể chứa về cơ bản là giữ được trạng thái ổn định, ít bị biến dạng, co ngót và hạn chế được sự phân hủy. Đây cũng là giải pháp được đánh giá là có hiệu quả nhất trong bối cảnh Việt Nam chưa có đủ trình độ và điều kiện về trang bị thiết bị chuyên dụng trong việc bảo tồn đồ gỗ như Nhật Bản.

Các loại hiện vật gỗ nhỏ được bảo quản trong môi trường khô cũng cơ bản đang ở trong tình trạng khá ổn định, tuy nhiên có một số trường hợp thấy xuất hiện nấm mốc màu trắng hay xuất hiện các vết rạn trên hiện vật. Các hiện tượng này cần phải theo dõi định kỳ và sớm đưa ra những biện pháp bảo tồn nhằm hạn chế sự biến dạng (Hình 7-8).

   

Hình 4 - 5: Cánh cửa gỗ thời Lê tìm thấy tại khu vực thềm sông ở khu B được bảo tồn nguyên trạng dưới lòng đất năm 2005. Hình ảnh dưới là tình trạng cánh cửa gỗ đã bị xuống cấp sau 5 năm bảo tồn.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   

II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BẢO TỒN ĐỒ GỖ

Kinh nghiệm quốc tế, nhất là từ các nước có nền khoa học phát triển về bảo tồn di chỉ khảo cổ học như Nhật Bản, Hàn Quốc, Bỉ cho thấy rằng, đồ gỗ là loại hình di vật khó bảo quản nhất. Đặc biệt ở khu vực Bắc Việt Nam, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao như môi trường Hà Nội và với đặc thù là những đồ gỗ khảo cổ (gỗ ngậm nước) thì việc bảo tồn đồ gỗ là vấn đề càng khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều lần. Mặt khác, từ trước đến nay, ở Việt Nam dường như chưa có những kinh nghiệm về bảo tồn đồ gỗ. Các loại gỗ khai quật được tại các di tích khảo cổ học luôn là thách thức và chưa có những giải pháp hữu hiệu nào cho việc bảo tồn đồ gỗ.

Kết quả điều tra tại di tích trong những năm 2009-2010 cho thấy, những hiểm họa lớn nhất đe doạ trực tiếp hay tiềm ẩn đối với việc bảo tồn đồ gỗ của khu di tích là khí hậu, mối và vi sinh vật. Mặc dù đã nhìn ra mối đe dọa đó, nhưng do việc đầu tư nghiên cứu khoa học tự nhiên về đặc tính, thuộc tính đồ gỗ chưa có chiều sâu và chưa toàn diện, do đó chưa thể cung cấp những cơ sở khoa học cho việc đề xuất những phương pháp bảo tồn thích hợp, hiệu quả cho từng loại gỗ trong lòng di tích. Bên cạnh đó, việc đầu tư nghiên cứu đánh giá tác động môi trường cũng chưa đạt được các yêu cầu và mục tiêu đặt ra. Sự thiếu hụt những thông số thu thập từ các thiết bị bảo tồn lắp đặt tại di tích ở khu A-B (nhiệt độ, độ ẩm, sự dao động nước ngầm...) bị gián đoạn. Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích và khó có thể giúp ích cho việc tổng hợp, đánh giá tình trạng bảo tồn, càng khó hơn cho việc nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hiệu quả, khả thi trong việc bảo tồn đồ gỗ cũng như bảo tồn cho khu di tích khảo cổ học quan trọng này.

Những đồ gỗ đang được bảo quản tương đối ổn định trong môi trường ngậm nước tại các bể chứa nước cũng đang tiềm ẩn nhiều vấn đề cần phải được đầu tư nghiên cứu, chẳng hạn như vi sinh vật, xử lý các chất thải từ thân gỗ, đặc biệt là phải tìm câu trả lời cho việc bảo quản lâu dài, bền vững những đồ gỗ này trong tương lai như thế nào. Đây là câu hỏi lớn và cũng là những thác thức không dễ vượt

       
     
     

Hình 6: Bình gỗ, thời Lê Trung hưng, thế kỷ 17.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

       

qua trong tương lai.

Những phân tích nêu trên cho thấy, việc bảo tồn đồ gỗ của khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã và đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Muốn từng bước khắc phục được tình trạng đó cần phải có sự đầu tư nghiên cứu chiều sâu, nghiên cứu cơ bản và mang tính liên ngành. Đặc biệt, cần có tầm nhìn trong chiến lược đầu tư phát triển nguồn nhân lực có đủ tri thức, có trình độ chuyên môn cao trong việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và có kỹ năng bảo tồn loại hình di vật đặc thù này. Đồng thời, phải có sự hợp tác quốc tế, nhất là với Nhật Bản trong việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời phải tính đến việc đầu tư hệ thống trang bị thiết bị chuyên dụng cho việc bảo tồn đồ gỗ. Nếu đi theo hướng đầu tư này, trong tương lai ngành bảo tồn đồ gỗ Việt Nam mới có cơ hội phát triển. Ngược lại, nếu vẫn duy trì trong tình trạng bảo tồn như hiện nay thì di sản không những sẽ xuống cấp ngày một nhanh hơn mà những đồ gỗ trong lòng di tích cũng có thể một ngày nào đó không còn tồn tại trong lòng di sản.

Nhận thức sâu sắc vấn đề nêu trên, các chuyên gia bảo tồn Nhật Bản, từ những bài học thất bại ở Nhật Bản và bằng kinh nghiệm thực tế đã chia sẻ với chúng tôi về những khó khăn thách thức trong việc bảo tồn di sản Hoàng thành Thăng Long. Và, trước yêu cầu về bảo tồn đồ gỗ, năm 2011-2012, chúng tôi đã hợp tác với Viện Nghiên cứu và Bảo tồn di sản văn hóa quốc gia Nara (gọi tắt là Nabunken) tổ chức thực hiện một chương trình đào tạo về bảo tồn đồ gỗ tại Nabunken (Nhật Bản). Các khóa đào tạo này tuy diễn ra trong thời gian ngắn (gần 4 tuần), nhưng đã cung cấp nhiều kinh nghiệm và kỹ năng quí báu, giúp cho cán bộ trẻ của Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành có những kiến thức cơ bản về bảo tồn và được trang bị nhiều kỹ năng trong công tác xử lý bảo tồn các di vật gỗ khảo cổ.

 

 
Hình 7-8ab: Các loại dùi đục gỗ thời kỳ Tiền Thăng Long và guốc gỗ thời Lý tìm thấy tại khu vực xây dựng Nhà Quốc Hội. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

   
Hình 9 - 10: Hiện tượng các tổ mối trong lòng di tích khu B và các cột gỗ kiến trúc cột âm thời Đại La ở khu A-B đang bị mối phá hủy. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

III. NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH ĐẶC TÍNH ĐỒ GỖ

1. Mục tiêu nghiên cứu

Để có thể tìm ra các biện pháp và kỹ thuật bảo tồn phù hợp cho từng loại hình di vật gỗ, vấn đề đặt ra hàng đầu là cần phải có những hiểu biết nhất định về đặc tính đồ gỗ đó. Muốn làm được điều này, cần phải có sự đầu tư nghiên cứu xác định tên gỗ, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lý, hóa học, cơ học cũng như tình trạng phá hủy của chúng. Đây là vấn đề khoa học, mang tính chất nghiên cứu cơ bản, đặt nền tảng và có ý nghĩa quan trọng không chỉ cung cấp cho các nhà khoa học những luận cứ về loài gỗ sử dụng trong việc xây dựng các công trình mà còn cung cấp những cơ sở cho việc đề xuất phương pháp bảo tồn đồ gỗ của khu di tích.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công việc nêu trên, năm 2010, chúng tôi đã phối hợp với các chuyên gia gỗ của trường Đại học Lâm nghiệp lần đầu tiên tiến hành công tác nghiên cứu, phân tích khoa học tự nhiên 6 mẫu gỗ thuộc 3 thời kỳ: Đại La, Đinh – Tiền Lê và thời Lý. Trong số đó, các mẫu thời Đại La và Đinh – Tiền Lê được lấy trực tiếp từ các bể ngâm và các mẫu gỗ thời Lý được lấy từ các cột gỗ của kiến trúc đang được bảo tồn nguyên trạng ngoài di tích tại khu B.

Kết quả phân tích cho thấy, 6 mẫu gỗ lựa chọn phân tích thuộc 3 loại gỗ: Lim xanh, Sến mật và Táu mật. Trong đó, các mẫu gỗ của kiến trúc thời Lý đều thuộc loại gỗ Sến mật. Đây là những loại gỗ quý, có chất lượng rất tốt, thuộc nhóm “tứ thiết” (Đinh, Lim, Sến, Táu) và thường được nhắc đến trong các tài liệu lịch sử, sử dụng khá phổ biến trong các công trình xây dựng bằng gỗ truyền thống, nhất là ở khu vực Bắc Việt Nam (xem Bảng 1).

 
Bảng 1. Kết quả phân tích mẫu gỗ năm 2010
 

Năm 2011, từ kết quả điều tra khảo sát về tình trạng các cọc gỗ, cột gỗ được bảo tồn tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi đã tiếp tục phối hợp với các chuyên gia của Đại học Lâm nghiệp tiến hành nghiên cứu xác định cấu tạo, tính chất vật lý, hóa học và cơ học của một số mẫu cột gỗ dùng trong xây dựng kiến trúc cung điện thời Lý trong Hoàng cung Thăng Long xưa. Đồng thời xác lập hệ thống dữ liệu cho việc nghiên cứu đánh giá sự biến đổi tính chất của di vật gỗ sau một thời gian dài bị chôn dưới lòng đất, làm cơ sở cho việc đề xuất phương pháp bảo tồn các di vật gỗ tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

Từ định hướng nêu trên, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu để phân tích thí điểm những cột gỗ của kiến trúc thời Lý ở khu B. Các mẫu gỗ được phân tích với 3 nội dung chính sau:

- Phân tích xác định tên/loài/nhóm gỗ;

- Phân tích và nghiên cứu so sánh xác định đặc tính gỗ;

- Nghiên cứu so sánh xác định đặc điểm môi trường sinh sống và khu vực phân bố của gỗ được phân tích.

2. Phương pháp thực hiện

Việc xác định đặc điểm cấu tạo gỗ được nghiên cứu phân tích dựa trên hai đặc điểm chính là cấu tạo thô đại và cấu tạo hiển vi. Các phương pháp xác định tính chất cơ học gỗ, xác định tính chất vật lý gỗ, xác định tính chất hóa học gỗ và phương pháp nghiên cứu so sánh kết quả phân tích giữa gỗ khảo cổ và gỗ đối chứng cũng được tiến hành trong phòng thí nghiệm tại trường Đại học Lâm nghiệp (Hà Nội).

3. Kết quả phân tích đặc tính đồ gỗ

Từ các phương pháp nêu trên, 4 mẫu gỗ đã được tiến hành phân tích và dựa vào sự quan sát đặc điểm cấu tạo trên 3 mặt cắt của các mẫu gỗ, việc nghiên cứu về hai đặc điểm cơ bản là cấu tạo thô và cấu tạo hiển vi. Đặc điểm cấu tạo thô được mô tả theo 3 mặt cắt (ngang, xuyên tâm và tiếp tuyến) của những mẫu gỗ nhỏ (1x1x2)cm và dùng kính lúp ống có độ phóng đại 10 lần (x10) để quan sát mẫu gỗ. Đặc điểm cấu tạo hiển vi được quan sát trên các tiêu bản hiển vi của lát cắt gỗ mỏng có độ dày từ 15-20 μm cũng đủ 3 mặt cắt (ngang, xuyên tâm và tiếp tuyến), dùng kính hiển vi OPTIKA (Ý) để khảo sát và đo đếm các thành phần cấu tạo gỗ.

Kết quả nghiên cứu đặc điểm cấu tạo của 4 mẫu gỗ: MT14/LYBKT034, MT32/LYBKT034, MT13/LYBKT023, B15.KXĐ.CHO6 như sau:

- Tên Việt Nam: Sến mật.

- Tên khoa học: Madhuca pasquieri (Dubard.) H.J.Lam.

- Nhóm gỗ: Thuộc nhóm II trong Bảng phân loại gỗ Việt Nam (xem Bảng 2).

 
Bảng 2: Kết quả phân tích mẫu gỗ năm 2011
 

Kết quả nêu trong Bảng 2 cho thấy, 4 mẫu gỗ thời Lý được lựa chọn phân tích đều thuộc một loại gỗ Sến mật. Đây là loại gỗ quý thuộc nhóm II và là nhóm gỗ “tứ thiết” gồm Đinh, Lim, Sến, Táu.

Như vậy, 07 mẫu gỗ thời Lý qua hai đợt phân tích đều có kết quả là loại gỗ Sến mật. Kết quả này thật thú vị, một lần nữa khẳng định vào thời Lý, các công trình kiến trúc cung điện thường sử dụng loại gỗ Sến mật trong việc xây dựng. Đây là kết luận rất quan trọng, giúp cho các nhà khoa học có thêm những cơ sở trong việc đánh giá về kỹ thuật xây dựng cũng như việc lựa chọn các loại vật liệu xây dựng bền vững cho các công trình trong Hoàng cung Thăng Long dưới vương triều Lý. Trong thời gian tới, những thông tin về đặc điểm hình thái và sinh học của loại gỗ này được nghiên cứu so sánh sẽ giúp các nhà khoa học có thể hình dung rõ hơn về sự huy động sức người, sức của của nhà Lý trong việc tái thiết dựng xây Kinh đô Thăng Long trong lịch sử với những hình ảnh rõ ràng sinh động hơn.

 
Hình 12: Bào gỗ, thời Lê Trung hưng, thế kỷ 17. Tìm thấy tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long.
(Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Dựa vào số liệu về đặc tính của gỗ Sến mật và dựa vào kết quả nghiên cứu so sánh về sự chênh lệch giữa khối lượng thể tích cơ bản và khô kiệt cho thấy các mẫu gỗ khảo cổ của khu di tích có giá trị chênh lệch cao hơn so với gỗ nguyên hiện đại. Điều này phản ánh rằng, các mẫu đó có độ co rút khá lớn và đó là nguyên nhân khiến gỗ sẽ bị biến dạng sau khi sấy khô. Đây là điểm cần lưu ý khi xem xét tới phương pháp bảo tồn gỗ khảo cổ sao cho phù hợp. Bởi lẽ, khối lượng thể tích cơ bản cho biết khối lượng gỗ thực trong mẫu gỗ và là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng gỗ. Vì thế, việc nghiên cứu so sánh khối lượng thể tích cơ bản của gỗ khảo cổ và gỗ mới có thể gián tiếp giúp ta hiểu rõ hơn chất lượng còn lại của gỗ khảo cổ cũng như đánh giá chất lượng của loại gỗ đó. Vì vậy, khi so sánh với khối lượng thể tích cơ bản của mẫu Sến mật hiện đại thấy rõ các mẫu MT14/LYBKT034, MT32/LYBKT034, MT13/LYBKT023, B15.KXĐ.CHO6 đều có giá trị thấp hơn, nhưng không giống nhau. Điều này chứng tỏ mức độ bị phá huỷ theo thời gian của các mẫu không hoàn toàn như nhau.

Những nhận xét nêu trên cho thấy rõ rằng, kết quả phân tích về đặc tính gỗ tại di tích là những  gợi mở rất quan trọng cho những giải pháp bảo tồn cùng những định hướng khá rõ ràng và có cơ sở khoa học hơn trong việc nghiên cứu bảo tồn đồ gỗ.

 

IV. MỘT VÀI NHẬN XÉT THAY KẾT LUẬN

1. Số lượng lớn các loại hình di vật gỗ tìm được tại khu di tích là nguồn tư liệu phong phú, quan trọng và rất có giá trị trong việc nghiên cứu, đánh giá về kỹ thuật và trình độ xây dựng của các công trình kiến trúc gỗ trong Hoàng cung Thăng Long qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Để có thể bảo tồn được các loại hình di vật đặc biệt phức tạp này, trong những năm 2009-2013, khi trực tiếp tiến hành công tác bảo tồn tại khu di tích, chúng tôi đã rất chú trọng đến công tác khảo sát nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng bảo tồn đồ gỗ, bao gồm những di vật đã được lấy lên khỏi lòng đất ngay trong quá trình khai quật hiện đang bảo tồn trong các bể chứa nước và những đồ gỗ hiện đang được bảo tồn nguyên trạng tại khu di tích. Kết quả khảo sát nghiên cứu đã thu được nhiều kết quả quan trọng, phản ánh rõ tình trạng bảo tồn cùng những khó khăn, thách thức đang phải đối mặt tại khu di tích hiện nay.

Tuy nhiên, việc bảo tồn đồ gỗ khảo cổ là rất khó và rất phức tạp, cần phải đầu tư nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu, trên cơ sở đó nghiên cứu lựa chọn giải pháp xử lý bảo tồn phù hợp, đồng bộ về vật lý và hóa học (hoặc kết hợp hóa - lý) như Richard Brunning và Jacqui Watson những nhà nghiên cứu bảo tồn đồ gỗ nổi tiếng trên thế giới đã tổng kết trong công trình “Waterlogged Wood”.

Việc áp dụng khoa học tự nhiên trong việc phân tích, nghiên cứu về cấu tạo gỗ khảo cổ từ đó nhằm tìm hiểu về nhóm, loài gỗ cũng như những đặc điểm cấu tạo thô đại, đặc điểm cấu tạo hiển vi và siêu hiển vi của gỗ như đã được thực hiện qua 10 mẫu trong năm 2010 và 2011 là một hướng đi đúng đắn trong nghiên cứu cơ bản về bảo tồn đồ gỗ. Kết quả phân tích đó không những đã góp phần quan trọng trong việc xác định được tên loài gỗ dùng trong việc xây dựng các công trình kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc định hướng bảo tồn gỗ khảo cổ. Và, mặc dù đây mới chỉ là những kết quả nghiên cứu ban đầu nhưng đang mở ra những hướng nghiên cứu mới cho công tác bảo tồn các di vật gỗ của khu di tích Hoàng thành Thăng Long.[3]

2. Từ khi khu di tích Hoàng thành Thăng Long trở thành Di sản Văn hoá thế giới, công tác bảo tồn di tích càng trở thành vấn đề rất quan trọng. Bảo tồn được xác định là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược, không chỉ trước mắt mà cả lâu dài, càng không phải là công việc quét lá, nhổ cỏ hay cạo rêu mốc đơn thuần. Đây là công việc cần có sự đầu tư chiều sâu không chỉ trong công tác nghiên cứu khoa học mà còn cả trong chiến lược đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc. Và, cho dù có được cơ sở vật chất và trang thiết bị tân tiến hiện đại nhưng nếu không có sự đầu tư nghiên cứu thỏa đáng và không có đủ năng lực về chuyên môn thì công tác bảo tồn di tích cũng không thể có được kết quả như mong đợi. Điều này đồng nghĩa rằng, cần phải có chiến lược đầu tư đồng bộ và lượng hoá được kết quả của việc làm hôm nay tác động đến di sản trong tương lai như thế nào. Nếu không nhận thức được sâu sắc điều đó, chính hành động của ngày hôm nay đang tham gia vào quá trình hoặc đẩy nhanh quá trình phá hủy di tích, di vật gỗ của khu di tích.

Và như trên đã phân tích, các đồ gỗ đang bảo tồn trong lòng các hố khai quật tại khu di tích đã và đang đứng trước rất nhiều nguy cơ bị phá hủy. Nếu không sớm có những giải pháp bảo tồn kịp thời trong việc xử lý mối, côn trùng thì sẽ có những hệ quả rất nghiêm trọng. Rất có thể một ngày nào đó nó không còn tồn tại trong lòng di sản.

 

            TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Cứ 1976: Nhận mặt gỗ. Nxb. Nông nghiệp;
  2. Vũ Hân 1964: Kiến thức cơ bản về gỗ. Nxb. Khoa học kỹ thuật;
  3. Nguyễn Đình Hưng 1990: Nghiên cứu cấu tạo, giải phẫu một số loài cây gỗ ở Việt Nam để định loại theo các đặc điểm cấu tạo thô đại và hiển vi. Luận án tiến sỹ khoa học Nông nghiệp. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam;
  4. PGS.TS. Nguyễn Đình Hưng, ThS. Lê Thu Hiền, ThS. Đỗ Văn Bản 2009: Át lát cấu tạo, tính chất gỗ và tre Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp;
  5. Lê Xuân Tình 1998: Giáo trình Khoa học gỗ. Trường Đại học Lâm nghiệp. Nxb. Nông nghiệp;
  6. Hồ Sĩ Tráng 1999: Cơ sở hoá học gỗ và xenluloza, Tập 1, 2. Nxb. Khoa học và kỹ thuật;
  7. Bộ môn Công nghệ chế biến gỗ 1982: Giáo trình gỗ. Đại học Lâm nghiệp;
  8. Vụ Lâm nghiệp 1956: Đặc tính và công dụng của gỗ ở Việt Nam. Bộ Nông Lâm;
  9. Tiêu chuẩn Việt Nam 1976: Tuyển tập Tiêu chuẩn nhà nước về gỗ và sản phẩm từ gỗ;
  10. Jacqui Watson 2010: Waterlogged Wood. Guidelines on the recording, sampling, conservation and curation of waterlogged wood. English Heritage. April, 2010;
  11. Yohsei Kohdzuma, Kazuya Minato, Yukio Katayama 1996: Relationships between some properties of waterlogged woods. Mokuzai Gakkaishi 42 (7): 681-687;
  12. Kozuma Yosei 2004: Characteristics of Waterlogged Woods. National Research Institute for Cultural Properties, Nara, Japan. P.15;
  13. Prosea 1995: Plant resources of Southeast Asia 5(2);
  14. Sjostrom E. 1993: Wood Chemitry: Fundamentals and Applications. 2nd ed. San Diego, Academic Press;
  15. Bùi Minh Trí & CS 2011: Báo cáo kết quả khảo sát đánh giá tình trạng bảo tồn, kết quả phân tích đặc tính đồ gỗ và đề xuất biện pháp bảo tồn đồ gỗ xuất lộ (năm thứ nhất), Hà Nội. Tư liệu Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành.

 


[1] Cạnh thềm sông phía Đông Nam khu A đã tìm thấy dấu tích con thuyền dài bằng gỗ, có niên đại thời Lê sơ. Năm 2010, để đáp ứng nhu cầu tham quan của công chúng trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, sau khi bảo tồn nguyên trạng con thuyền dưới lòng đất, chúng tôi đã tái hiện lại con thuyền bằng hình ảnh gần với tỉ lệ thực và trưng bày dưới hầm kính tạo thành điểm nhấn thú vị cho lộ trình tham quan tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong suốt những năm qua.

 

[2] Trong nhiều năm trước đây, khi xử lý bảo tồn đồ gỗ xuất lộ trong các hố khai quật, chúng tôi đã áp dụng phương pháp dùng bao tải gai có độ dày, có độ hút nước để che phủ giữ độ ẩm cho đồ gỗ. Thực tế cho thấy, đây là phương pháp không an toàn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phá hủy đồ gỗ. Sau một thời gian thí điểm, chúng tôi đã phát hiện ra rằng, khu vực có bao tải che phủ đã trở thành môi trường lý tưởng để mối làm tổ và tấn công đồ gỗ. Từ kinh nghiệm thất bại này, chúng tôi khuyến cáo không nên dùng bao tải để giữ độ ẩm cho đồ gỗ tại khu di tích.

 

[3] Bùi Minh Trí & CS 2011: Báo cáo kết quả khảo sát đánh giá tình trạng bảo tồn, kết quả phân tích đặc tính đồ gỗ và đề xuất biện pháp bảo tồn đồ gỗ xuất lộ (năm thứ nhất), Hà Nội. Tư liệu Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành.

 

Bùi Minh Trí; Nguyễn Thị Anh Đào

(Thông báo Khoa học năm 2014)