Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, bảo tồn - Khu di tích Hoàng thành Thăng Long

07/05/2016

Chương trình hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản vốn đã được Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) khởi xướng ngay từ năm 2004 trước yêu cầu cấp thiết của công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị khoa học và công tác bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Đặc biệt, sau chuyến tham quan khu di tích Hoàng thành Thăng Long của Thủ tướng Nhật Bản Kuzumi vào tháng 10 năm 2004, một chương trình hợp tác đã được mở ra và sau đó các chuyên gia Nhật Bản đã có mặt tại di tích ngay từ năm 2006.

LỜI NÓI ĐẦU

Chương trình hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản vốn đã được Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) khởi xướng ngay từ năm 2004 trước yêu cầu cấp thiết của công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị khoa học và công tác bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Đặc biệt, sau chuyến tham quan khu di tích Hoàng thành Thăng Long của Thủ tướng Nhật Bản Kuzumi vào tháng 10 năm 2004, một chương trình hợp tác đã được mở ra và sau đó các chuyên gia Nhật Bản đã có mặt tại di tích ngay từ năm 2006.

Trong gần 8 năm thực hiện, các chuyên gia Nhật Bản luôn phối hợp và hợp tác chặt chẽ với các nhà khảo cổ học Việt Nam, thường xuyên có những chuyến công tác ngắn hạn sang Việt Nam để "quì gối làm việc" tại di tích.

Chương trình hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản đã có những đóng góp rất quan trọng thể hiện qua những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, hợp tác nghiên cứu xây dựng hệ lưới tọa độ Hoàng thành Thăng Long, nhằm đem lại hiệu quả cho công tác đo vẽ lại di tích này chính xác, khoa học hơn và đặc biệt đã phục vụ tốt cho việc nghiên cứu phương vị, mặt bằng cũng như qui hoạch tổng thể các công trình kiến trúc của khu di tích;

Thứ hai, hợp tác tổ chức tái điều tra, khai quật nghiên cứu, đánh giá giá trị di tích kiến trúc, đặc biệt là di tích kiến trúc thời Lý của khu di tích;

Thứ ba, hợp tác nghiên cứu bảo quản di vật và bảo tồn di tích.

Từ các chương trình nghiên cứu này và qua những kết quả nghiên cứu tại khu di tích, các nhà khoa học Nhật Bản càng có điều kiện hiểu sâu hơn về khu di tích Hoàng thành Thăng Long và về lịch sử Kinh đô Thăng Long. Đồng thời, xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa, giá trị đặc biệt của khu di tích, các chuyên gia Nhật Bản đã tiếp nối xây dựng một dự án nhằm bảo tồn khu di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội. Đó chính là Dự án Quỹ tín thác UNESCO – Nhật Bản. Dự án này đã chính thức đi vào hoạt động từ năm 2010 và kéo dài đến đầu năm 2013.

 
Hình 1: Hợp tác nghiên cứu so sánh, đánh giá giá trị di tích kiến trúc Hoàng thành Thăng Long tại Nhật Bản, năm 2014. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về công tác nghiên cứu địa chất, môi trường, đánh giá tác động môi trường và đề xuất phương án bảo tồn di tích

Một trong những yêu cầu cấp thiết và là nội dung quan trọng của Dự án “Bảo tồn khu di sản Thăng Long – Hà Nội” được thực hiện bởi Quỹ tín thác UNESCO – Nhật Bản đó là công tác nghiên cứu đánh giá địa chất, môi trường và những tác động của môi trường và con người đến công tác bảo tồn khu di tích. Bởi lẽ, như chúng ta đã biết, khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã có nhiều biến đổi từ khi chúng xuất lộ do sự tác động mạnh mẽ của môi trường phức tạp gây ra sự biến đổi về màu sắc đất, sự rạn nứt bề mặt do thiếu độ ẩm hay sự xuất hiện vi nấm ở khu vực dư thừa độ ẩm... Những nhân tố này tiềm ẩn nguy cơ làm hư hại di tích. Do đó, để có thể bảo tồn di tích một cách khoa học, điều quan trọng là cần phải hiểu điều kiện độ ẩm của các di tích thông qua quan sát môi trường xung quanh và đo lượng nước ngầm, độ ẩm, sự phân bố của chúng trong các tầng đất trong các khu di tích xuất lộ, từ đó nghiên cứu, phân tích nhằm xây dựng các biện pháp bảo tồn di tích phù hợp.

Vì vậy, mục tiêu quan trọng của tiểu dự án là nghiên cứu đánh giá tổng thể trên nhiều phương diện về tình trạng bảo tồn và tiến hành thu thập dữ liệu cần thiết để xây dựng các phương pháp, hệ thống qui trình bảo tồn cho khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long hiệu quả, lâu dài.

Mục tiêu chung của tiểu dự án là tập trung ưu tiên cho công tác đào tạo, nâng cao các kỹ năng quan sát môi trường, thu thập và xử lý các dữ liệu trên cơ sở quan sát, lấy kết quả quan trắc từ các thiết bị máy móc bảo tồn được lắp đặt tại di tích; Phối hợp tổ chức và triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu đề xuất phương pháp bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

Để triển khai nội dung chương trình nêu trên, các chuyên gia của Ban Chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long (Tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành hiện nay) đã phối hợp với Viện Địa chất, các đơn vị có liên quan cùng hợp tác với các chuyên gia bảo tồn của Nhật Bản tiến hành: nghiên cứu các tầng đất, khoan trắc địa thủy văn, lắp đặt thiết bị quan trắc động thái nước ngầm; đo chỉ số của môi trường liên quan đến bảo tồn di tích; đo sự phân bố lượng nước ẩm trong các di tích đã xuất lộ và tìm hiểu đặc trưng của nước ngầm trong đất của khu di tích.

Bên cạnh các thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn, thiết bị đo độ ẩm của đất do Nhật Bản tài trợ được lắp đặt tại khu D, một hệ thống gồm nhiều loại thiết bị khác nhau chuyên sử dụng vào việc đo độ ẩm, độ nứt nẻ của đất và đo biến động nước tại các giếng nước do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đầu tư kinh phí lắp đặt tại khu di tích cùng với sự hỗ trợ tư vấn của các chuyên gia bảo tồn vùng Wallonie – Bruxells, Bỉ. Năm 2011, từ nguồn kinh phí của Dự án Quỹ tín thác Nhật Bản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã lắp đặt thêm 02 thiết bị quan trắc nước ngầm của Mỹ tại khu A và khu B nhằm quan trắc tự động sự dao động mực nước ngầm, áp suất nước và nhiệt độ nước.

Việc lắp đặt hệ thống các loại thiết bị máy móc nói trên nhằm hướng tới mục tiêu là thu thập các loại dữ liệu cần thiết, từ đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tác động của môi trường dưới nhiều góc độ đến công tác bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Đây là những cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đánh giá tổng hợp, từ đó đưa ra những giải pháp bảo tồn khu di tích này trong tương lai.

Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu các điều kiện môi trường từ độ ẩm, nhiệt độ, không khí trong khu di tích thông qua việc đo lượng nước ngầm, độ ẩm, sự phân bố của chúng trong các tầng đất tại các khu di tích xuất lộ, từ đó nghiên cứu, phân tích nhằm xây dựng các biện pháp bảo tồn di tích phù hợp, đòi hỏi phải có trình độ và phải được đào tạo bài bản, khoa học. Do vậy, dự án đã dành sự quan tâm đến công tác nâng cao kỹ năng thu thập và xử lý dữ liệu về môi trường thông qua các loại thiết bị, máy móc về bảo tồn lắp đặt tại khu D cùng phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu về môi trường tại khu di tích. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng cho công tác nghiên cứu, đề xuất các biện pháp, phương pháp bảo tồn trước mắt cũng như lâu dài của khu di tích.

Bên cạnh công việc nói trên, năm thứ ba, dự án cũng đã quan tâm đến công tác nghiên cứu, bảo tồn di tích mộ táng khai quật được tại khu vực xây dựng Nhà Quốc hội (Khu E) năm 2008 – 2009. Đó là mộ E27.MO.040 là một trong số 41 di tích mộ táng thời Đinh – Tiền Lê được tìm thấy tại Khu E.

Qua công tác kiểm tra thường xuyên tình trạng bảo tồn di tích mộ táng tại kho khu D có thể thấy, di tích vẫn trong tình trạng bảo quản tương đối tốt, không xảy ra hiện tượng xấu hoặc bất thường và có thể sẵn sàng phục vụ cho công tác xử lý trưng bày khi cần thiết.

2. Khảo sát đánh giá tình trạng bảo tồn, nghiên cứu phân tích đặc tính đồ gỗ và đề xuất biện pháp bảo tồn đồ gỗ xuất lộ

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã phát hiện được một số lượng lớn các loại hình di vật gỗ. Đây là nguồn tư liệu phong phú, quan trọng và rất có giá trị khoa học trong việc nghiên cứu, đánh giá về vật liệu, kỹ thuật và trình độ xây dựng của các công trình kiến trúc gỗ cũng như đời sống Hoàng cung Thăng Long qua nhiều thời kỳ lịch sử. Do đó, việc bảo tồn các loại hình di vật này được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, không những góp phần thiết thực cho công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử, văn hóa của khu di tích Hoàng thành Thăng Long, mà còn là nguồn tư liệu quí cho việc trưng bày giới thiệu tới đông đảo quần chúng nhân dân và du khách quốc tế trong tương lai.

Tuy nhiên, do là loại hình di vật rất đặc biệt, có đặc tính phức tạp, nên các loại đồ gỗ được giới khoa học bảo tồn quốc tế xác định là đối tượng rất khó bảo tồn và đòi hỏi cần có sự đầu tư rất lớn trên nhiều phương diện mới có thể bảo tồn được lâu dài.

Để đáp ứng được công tác bảo tồn đồ gỗ của khu di tích, mục tiêu chính của tiểu dự án đặt ra là nhằm phối hợp với các chuyên gia bảo tồn đồ gỗ của Nhật Bản xây dựng phương pháp luận cho các biện pháp bảo tồn các hiện vật gỗ, bao gồm các di vật gỗ đang bảo quản khô hoặc ngâm nước trong các hộp nhựa chuyên dụng hay đang bảo quản ngâm nước trong các bể lớn ở khu di tích; các cột, các móng bè gỗ đang để lộ thiên hay đã được lấp lại dưới lòng đất tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Đồng thời, tập trung phân loại chủng loại gỗ, đánh giá tác động môi trường và sự biến đổi trạng thái của gỗ, theo dõi độ ẩm và phòng ngừa, diệt trừ mối đang xâm hại gỗ ngoài di tích, nghiên cứu đề xuất biện pháp bảo tồn tổng thể lâu dài đồ gỗ lộ thiên. Trong đó, ưu tiên đặc biệt đối với các cọc gỗ đã khai quật và đưa lên khỏi lòng đất. Tất cả các cọc gỗ này cần phải tiến hành nghiên cứu để tìm ra phương pháp và kỹ thuật bảo quản phù hợp, bởi nó có những đặc tính rất khác so với những cọc gỗ tìm được ở Nhật Bản cũng như các di tích khác trên thế giới, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao như Hà Nội càng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình xử lý bảo tồn. Trong điều kiện môi trường đó, mối đe dọa lớn nhất đối với việc bảo tồn đồ gỗ của khu di tích là mối và vi sinh vật. Đây là vấn đề khó khăn, nan giải và cần phải đầu tư trên nhiều phương diện, từ việc nghiên cứu đặc tính, thuộc tính đồ gỗ, vừa nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, vừa nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hiệu quả, khả thi trong việc diệt trừ và ngăn ngừa mối và vi sinh vật xâm hại.

Ngay cả những đồ gỗ đã và đang được bảo quản tương đối ổn định ở môi trường ngậm nước, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề cần phải được đầu tư nghiên cứu để xử lý như vi sinh vật, xử lý các chất thải và cách bảo quản lâu dài, bền vững sẽ thực hiện như thế nào trong tương lai? Đây là câu hỏi lớn và cũng là những thách thức không dễ vượt qua trong tương lai gần.

Để nghiên cứu và bảo tồn các loại di vật gỗ, trong 02 năm, dự án đã tiến hành nghiên cứu phân tích thực nghiệm 10 mẫu gỗ cổ nhằm bước đầu xác định tên, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lý, hóa học, cơ học cũng như tình trạng phá hủy của chúng, trên cơ sở đó cung cấp những hiểu biết cơ bản nhằm tìm ra các biện pháp và kỹ thuật bảo tồn phù hợp cho từng loại hình di vật gỗ.

   
Hình 2-3: Tập huấn về kỹ năng và phương pháp nghiên cứu, khai quật khảo cổ học tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long. (Ảnh: Bùi Minh Trí - Nguyễn Hữu Thiết)
   

3. Tái điều tra, khai quật, nghiên cứu khảo cổ học

Mục tiêu chung của tiểu dự án tái điều tra, khai quật, nghiên cứu khảo cổ học là nâng cao năng lực và phương pháp khai quật, xử lý khoa học đối với loại hình di tích khảo cổ học đô thị nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học các di tích kiến trúc ở khu di tích.

Để có thể thực hiện tốt được mục tiêu trên, trong các năm này dự án đã áp dụng phương thức tổ chức là xen cài lồng ghép giữa chương trình tái điều tra, khai quật, nghiên cứu khảo cổ học kết hợp với chương trình đào tạo kỹ năng, phương pháp khai quật, xử lý hiện trường và lập hồ sơ báo cáo khoa học về di tích giữa các chuyên gia khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản.

Thông qua phương thức trên, những nhận biết về các hiện tượng khảo cổ học, đặc biệt là những nhận thức cơ bản về dấu tích nền móng, móng trụ và hệ thống cột âm của các kiến trúc gỗ từ kinh nghiệm của Nhật Bản đã được truyền đạt trong các buổi giảng ngoài di tích bởi các chuyên gia Nhật Bản. Bên cạnh đó, các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam cũng đã cùng làm và cùng hướng dẫn chi tiết kỹ năng khai quật theo qui trình và phương pháp của khảo cổ học quốc tế và phương pháp xử lý các hiện tượng khảo cổ học. Kỹ thuật đo vẽ, chụp ảnh di tích từ chi tiết đến tổng thể cũng được trao đổi, truyền đạt cùng với các kỹ năng ghi chép, lập hồ sơ tư liệu và viết báo cáo kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học.

Từ cách làm trên, khóa tập huấn về phương pháp và qui trình khai quật, nghiên cứu khảo cổ học tuy diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đều đã mang lại nhiều kinh nghiệm hữu ích cho các cán bộ khoa học trẻ của Ban Chủ nhiệm Dự án Hoàng thành Thăng Long cũng như các cán bộ của Trung tâm bảo tồn khu di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội (nay đổi tên là Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội). Đồng thời, thông qua chương trình của Quỹ tín thác, công tác tái điều tra, khai quật và nghiên cứu khảo cổ học tại vị trí hố A23 khu vực lòng sông, hố D07 ở khu D ngoài sự mang lại những hiệu quả cao cho công tác đào tạo kỹ năng khai quật và xử lý chuyên môn ngoài hiện trường còn phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu, đánh giá giá trị và hoàn thiện hồ sơ khoa học đối với những di tích kiến trúc ở khu vực này.

   
Hình 4-5: Nghiên cứu tác động môi trường và đánh giá tình trạng bảo tồn di tích, di vật tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Về công tác nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề xuất biện pháp bảo tồn di tích

Những kết quả nghiên cứu địa chất, môi trường trong nhiều năm qua chứng minh rằng, quá trình phong hóa của các tầng đất đắp trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long là quá trình phong hóa cả vật lý và hóa học đang diễn ra đối với các tầng đất đắp hiện lộ ra tại các khu khai quật. Các tỷ số hóa học đều minh chứng cho quá trình phong hóa cũng như xu thế phát triển mạnh. Các chỉ tiêu cơ lý đất của các tầng đất đắp đều khẳng định thuộc loại đất bở rời, thuộc loại đất bán yếu.

Nhằm hạn chế quá trình phong hóa tác động tới các tầng đất đắp hiện lộ ra tại các khu khai quật, ngoài việc nghiên cứu nhằm nâng cao các chỉ tiêu cơ lý của đất, trước mắt cần phải đảm bảo độ ẩm của các tầng đất đắp hiện đang lộ thiên bằng cách thường xuyên phu nước bổ sung độ ẩm cho chúng.

Giải pháp lâu dài cần tính đến là việc đóng lại di tích bằng việc lấp cát, che phủ dưới tầng đất kín. Để có thể áp dụng được giải pháp hiệu quả này cần có nhận thức đúng đắn hơn về khái niệm bảo tồn nguyên trạng di tích. Các di tích xuất lộ trong lòng hố khai quật khảo cổ thường nằm ở những cao độ cao thấp khác nhau, muốn bảo tồn di tích ở tầng trên thì phải có phương án lấp cát ngay các di tích nằm ở tầng dưới. Đây là giải pháp sơ đẳng nhằm ngăn ngừa và hạn chế ngay hiện tượng ứ đọng nước vào mùa mưa, chống sự phát triển của rêu, mốc và sạt lở khi đất co ngót, biến dạng...

Kết quả nghiên cứu nhiều năm cho thấy, muốn xây dựng được phương pháp bảo tồn mang tính khoa học, lâu dài thì cần phải tiếp tục đầu tư cho công tác nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, địa chất, đặc biệt là nghiên cứu phân tích về nước ngầm, nước ngang, sự phong hóa của đất.

2. Về công tác điều tra, nghiên cứu, đánh giá tình trạng bảo quản, bảo tồn đồ gỗ

Số lượng lớn các loại hình di vật gỗ tìm được tại khu di tích từ những năm 2002 – 2009 là nguồn tư liệu phong phú, quan trọng và rất có giá trị khoa học trong việc nghiên cứu, đánh giá về kỹ thuật và trình độ xây dựng của các công trình kiến trúc gỗ trong Hoàng cung Thăng Long qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Để có thể tìm ra các biện pháp và kỹ thuật bảo tồn phù hợp cho từng loại hình di vật gỗ, vấn đề đặt ra hàng đầu là cần phải có những hiểu biết nhất định về đặc tính đồ gỗ đó. Muốn làm được điều này, thì cần phải có sự đầu tư nghiên cứu xác định tên gỗ, đặc điểm cấu tạo, tính chất vật lý, hóa học, cơ học cũng như tình trạng phá hủy của chúng. Đây là vấn đề khoa học, mang tính nghiên cứu cơ bản, đặt nền tảng và có ý nghĩa quan trọng không chỉ cung cấp cho các nhà khoa học những luận cứ về loài gỗ sử dụng trong việc xây dựng các công trình mà còn cung cấp những cơ sở cho việc đề xuất phương pháp bảo tồn đồ gỗ của khu di tích.

Kết quả phân tích đặc tính 10 mẫu gỗ năm 2010-2011 đã góp phần gợi mở quan trọng cho những giải pháp bảo tồn về loại gỗ này cũng có những định hướng khá rõ ràng và có cơ sở hơn. Kết quả nghiên cứu so sánh cho thấy rõ sự chênh lệch rất cao giữa khối lượng thể tích cơ bản và khô kiệt giữa các mẫu gỗ khảo cổ của khu di tích với gỗ nguyên hiện đại.  Từ đây, những nhận xét đánh giá về độ co rút, biến dạng của gỗ khảo cổ đã được phân tích. Đồng thời qua nghiên cứu, các nhà chuyên môn cũng chỉ ra rằng, mức độ bị phá hủy theo thời gian của các mẫu không hoàn toàn giống nhau.

Có thể nói, việc áp dụng khoa học tự nhiên trong việc phân tích, nghiên cứu về cấu tạo gỗ khảo cổ học là rất có ý nghĩa, nó không những xác định được tên loài gỗ dùng trong việc xây dựng các công trình kiến trúc mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc định hướng bảo tồn gỗ khảo cổ. Và, mặc dù đây mới chỉ là những kết quả ban đầu nhưng đang mở ra hướng nghiên cứu mới cho công tác bảo tồn di vật gỗ của khu di tích trong tương lai.

3. Về công tác tái điều tra, khai quật nghiên cứu khảo cổ học

Kết quả thực hiện các đợt tái điều tra, nghiên cứu khảo cổ học trong nhiều năm qua đã góp phần ngày càng làm rõ giá trị, tính chất và qui mô của dấu tích kiến trúc đã xuất lộ từ những năm 2004. Kết quả đó cho thấy, công tác tái điều tra, nghiên cứu khảo cổ học là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc minh chứng sâu hơn, rõ hơn về diện mạo của những công trình kiến trúc đã xuất lộ. Và, cho dù đã có những hiểu biết nhất định hay có những manh mối để khẳng định về loại hình kiến trúc cụ thể nào đó, nhưng đối với tất cả các kiến trúc đã xuất lộ vẫn còn quá nhiều vấn đề khoa học đặt ra đang cần phải được tiếp tục nghiên cứu sâu, kỹ mới có thể có đủ cứ liệu để xây dựng hồ sơ khoa học về di tích.

Thực tiễn của việc triển khai dự án của Quỹ Tín thác cho thấy, công tác tái điều tra, nghiên cứu khảo cổ học tại khu di tích cần phải tiếp tục được triển khai trên nhiều phương diện. Trong đó, công tác nghiên cứu sâu về kết cấu, về kỹ thuật xây dựng của các công trình kiến trúc đó là vấn đề rất quan trọng. Công việc này không những minh chứng rõ hơn về diện mạo, qui mô của các di tích kiến trúc đó dựa trên những bằng chứng còn lại của khảo cổ học mà còn góp phần tích cực trong việc bảo tồn dấu tích đã xuất lộ.

Chương trình đào tạo trình độ cao với việc xử lý tỉ mỉ và bài bản, khoa học các hiện tượng khảo cổ học trong hố khai quật đã phần nào giúp cho việc nghiên cứu, đánh giá và ghi chép tư liệu về các di tích tại các hố này được đầy đủ và hoàn thiện hơn.

III. MỘT SỐ NHẬN XÉT

Năm 2013, Dự án Quỹ Tín thác UNESCO Nhật Bản đã kết thúc, cũng là năm khép lại chương trình hợp tác đối với công tác nghiên cứu, bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Tuy chương trình đã kết thúc nhưng những di ảnh của chương trình này cùng những đóng góp chung của các nhà khoa học Nhật Bản và Việt Nam vẫn sẽ còn mãi với những hình ảnh đẹp đẽ trong những năm tháng cùng nhau trên công trường, trong quan hệ bạn bè, đồng nghiệp và đây cũng chính là cơ sở nền tảng để vun đắp tình hữu nghị lâu đời và mở ra các chương trình tiếp tục hợp tác tốt đẹp trong thời gian tới.

Những đánh giá của chúng tôi trong bài viết này chưa thật sự đầy đủ, nhưng cũng phần nào phản ánh rõ những đóng góp quan trọng trên nhiều phương diện mà chương trình hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản mang lại trong những năm qua. Theo chúng tôi, một trong những đóng góp quan trọng nhất mà chương trình hợp tác mang lại đó chính là: Thứ nhất, tầm nhìn và nhận thức xã hội về công tác nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa khảo cổ học ở Việt Nam; Thứ hai, phương pháp, kỹ năng và tư duy nghiên cứu khảo cổ học đô thị. Và có thể nói không quá rằng, chính nhờ sự có mặt của các chuyên gia Nhật Bản tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long trong nhiều năm qua đã đem lại nhiều sự ảnh hưởng thậm chí là sự thay đổi về phương pháp và tư duy nghiên cứu của nhà khoa học Việt Nam và thậm chí cả những nhà quản lý Việt Nam.

Vì lẽ đó, chúng tôi xin kết luận ngắn gọn lại rằng, mặc dù công tác nghiên cứu, bảo tồn khu di sản Hoàng thành Thăng Long vẫn đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức; công tác nghiên cứu khoa học vẫn đang còn rất nhiều vấn đề dở dang, đang phải tiếp tục đầu tư thực hiện trong nhiều năm, nhưng hoạt động của các chuyên gia Nhật Bản trong những năm qua được xem như là một “cú hích” tác động mạnh mẽ vào quá trình này, và rồi, công tác nghiên cứu về khảo cổ học đô thị cũng như công tác nghiên cứu về khoa học bảo tồn di sản khảo cổ học ở Việt Nam hy vọng sẽ có được những nhận thức mới và từ đó sẽ có những bước chuyển biến trong tương lai.

 

Lê Thị Minh Trà

(Thông báo Khoa học năm 2014)