Kinh đô Cổ Loa - Trong Lịch sử hình thành Văn minh Đại Việt

07/05/2016

Căn cứ vào khu vực phân bố của 3 vòng thành thì kinh đô Cổ Loa có tổng chu vi gần 16.000m và diện tích khoảng 46ha, thuộc địa phận 5 xã của huyện Đông Anh, trong đó xã Cổ Loa là trung tâm và 4 xã xung quanh: Dục Tú (phía Đông Bắc), Việt Hùng (phía Bắc), Uy Nỗ (phía Tây Bắc) và Đông Hội (phía Nam). Năm 208 BC, nước Âu Lạc được thành lập trên cơ sở nối tiếp nước Văn Lang thời các vua Hùng. Nước Âu Lạc ra đời là sự phát triển mới của quốc gia cổ đại Việt Nam. An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc...

LỜI MỞ        

Căn cứ vào khu vực phân bố của 3 vòng thành thì kinh đô Cổ Loa có tổng chu vi gần 16.000m và diện tích khoảng 46ha, thuộc địa phận 5 xã của huyện Đông Anh, trong đó xã Cổ Loa là trung tâm và 4 xã xung quanh: Dục Tú (phía Đông Bắc), Việt Hùng (phía Bắc), Uy Nỗ (phía Tây Bắc) và Đông Hội (phía Nam).

Năm 208 BC, nước Âu Lạc được thành lập trên cơ sở nối tiếp nước Văn Lang thời các vua Hùng. Nước Âu Lạc ra đời là sự phát triển mới của quốc gia cổ đại Việt Nam. An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc, trong bối cảnh và yêu cầu mới, đã thể hiện tầm nhìn của nhà chính trị chiến lược khi quyết định dời vị trí trung tâm đất nước từ miền trung du-vùng ngã sông Thao, sông Lô, sông Đà ở Bạch Hạch (Việt Trì) xuống vùng ngã ba sông Hồng, sông Đuống-miền đồng bằng rộng lớn ở Cổ Loa để định đô, xây thành.

Chọn Cổ Loa định đô, An Dương Vương đã lãnh đạo quân dân Âu Lạc tích cực củng cố và xây dựng nhà nước non trẻ. Chỉ trong thời gian ngắn, một tòa thành đồ sộ và độc đáo đã hoàn thành. Đó là thành Cổ Loa với tường thành đắp bằng đất cao và vững chắc, bên ngoài có hào sâu, thuỷ-bộ liên thông với hệ thống sông Hoàng Giang, sông Hồng có thể ngược lên miền núi và xuôi xuống vùng đồng bằng rất thuận tiện (Hình 1).  

Nhìn rộng hơn, Cổ Loa lúc ấy thuộc phía Tây Bắc của phần thượng đỉnh thứ hai châu thổ sông Hồng (đỉnh thứ nhất là Việt Trì) có đất đai màu mỡ và cư dân tập trung. Việc định đô ở Cổ Loa, An Dương Vương đã thấy được có thể dựa thế núi, thế sông, có thể mở rộng đất nước từ miền núi xuôi xuống biển.

Hệ thống hóa các tư liệu lịch sử và khảo cổ học nghiên cứu về kinh đô Cổ Loa, chúng ta có thể thấy, tư liệu lịch sử phần lớn có niên đại muộn hơn so với thành Cổ Loa, nước Âu Lạc. Tư liệu được ghi chép trong các bộ sử cổ thời phong kiến ở Việt Nam và Trung Quốc một phần không chính xác, phần khác trùng lặp nhau, nên không thể cho chúng ta biết chính xác lịch sử và niên đại của thành Cổ Loa, nước Âu Lạc.

            

       
Hình 1: Cổng đền Thượng - Cổ Loa. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
 

Tuy nhiên, các sự kiện lịch sử đó chắc chắn đã diễn ra và có thật trong lịch sử thời dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Để giải quyết thấu đáo vấn đề này, chúng ta cần thiết phải kết hợp giữa tư liệu lịch sử và tư liệu khảo cổ học. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin trình bày các kết quả nghiên cứu chung về kinh đô Cổ Loa và vị trí của nó trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

 

I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Kinh đô Cổ Loa qua tư liệu lịch sử

Lịch sử kinh đô Cổ Loa gắn liền với lịch sử khu di tích Cổ Loa. Quy mô Kinh đô Cổ Loa được hiểu gồm những nơi lũy hào Cổ Loa được xây đắp. Khu di tích Cổ Loa bao gồm phạm vi phân bố của thành Cổ Loa và vùng lân cận. Nghiên cứu lịch sử kinh đô Cổ Loa không thể không nghiên cứu thành Cổ Loa và ngược lại, nghiên cứu thành Cổ Loa không thể không dựa vào kết quả nghiên cứu lịch sử khu di tích Cổ Loa.    

1.1. Về vị trí và tên gọi của thành Cổ Loa

Các bộ sử của Trung Quốc ghi chép về nước Âu Lạc và thành Cổ Loa của An Dương vương, trước tiên phải kể đến bộ Sử ký của Tư Mã Thiên. Qua ghi chép của ông, chúng ta có thể hình dung được nước Âu Lạc qua biện bạch của Nam Việt Vương Triệu Đà trước sứ giả nhà Hán: “Ở phía đông đất Mân Việt, chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng là vương, ở phía tây nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là vương”[1]. Qua lời tâu này, chúng ta được biết: trước khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương chỉ có 2 nước được coi là đáng kể nhất trong khu vực đương thời là Mân Việt và Âu Lạc. Nước Âu lạc có vua và dân cư sinh sống có các phong tục, tập quan và thói quen hoàn tòan khác với vùng cư dân ở phía Bắc.

Sau Tư Mã Thiên, Cố Ban trong Hán thư cũng chép về nước Âu Lạc. Sách Quảng châu ký (do Sử ký sách ẩn dẫn) cũng nói về việc An Dương Vương “đóng đô ở Phong Khê”. Trong sử cũ và trong thần tích về An Dương Vương, đặc biệt là trong nhân dân, Cổ Loa chính là Phong Khê xưa. Sách Thuỷ kinh chú (thế kỷ 6) cũng xác nhận rằng: “Nay ở huyện Bình Đạo hiện còn thấy rõ cung thành của An Dương Vương”. Sách Tấn Thái Khang địa chí chép: “Huyện ấy thuộc quận Giao Chỉ”.

Các bộ sử thời phong kiến Việt Nam cũng chép nhiều về nước Âu Lạc và thành Cổ Loa của An Dương Vương. An Nam chí lược của Lê Trắc (thế kỷ 14) chép: “Thành Việt Vương tục gọi là thành Khả Lũ. Có ao cổ. Người trong nước mỗi năm tìm được ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc sẽ tươi đẹp”. Đại Việt sử lược (cuối thế kỷ 14) ghi: “Phán đắp thành ở Việt Thường xưng hiệu là An Dương Vương”.

Trong ghi chép của các bộ sử cổ nước ta, tên Loa thành xuất hiện vào thế kỷ 15 và cùng với tên đó là truyền thuyết xây thành hình xoáy ốc. An Nam chí nguyên Việt Kiệu thư chép: “Việt Vương thành ở huyện Đông Ngạn còn gọi là Loa thành”. Hai sách đó giải thích: “Vì An Dương Vương đóng đô trên đất Việt, nên người đời sau gọi thành ấy là Việt Vương thành. Có tên Loa thành vì thành ấy quanh co như trôn ốc”.

 

Hình 2: Hệ thống thành Cổ Loa và các di tích bên trong và ngoài thành.

 

 

1.2. Về quy mô các vòng thành Cổ Loa

Chỉ có sách Nam Việt chíTuỳ thư chép về kích thước các vòng thành và cho biết thành đó là thành của vua Việt. Nam Việt chí (do Cựu Đường thư- địa lý chí dẫn) viết: “… Thành đó có 9 vòng, chu vi chín dặm, sĩ thứ đông đúc”. Tùy thư chép việc Lý Phật Tử đóng đô ở “thành cũ của vua Việt” (Việt Vương cố thành). Đây là lần đầu tiên xuất hiện tên “thành của vua Việt”.

Như vậy, đã có nhiều bộ sử cổ của Việt Nam và Trung Quốc ghi chép về nước Âu Lạc và thành Cổ Loa của An Dương Vương. Tuy nhiên, những ghi chép này không cụ thể và thường trùng lặp nhau, nên thông tin không nhiều. Để hiểu biết sâu thêm về thành Cổ Loa, chúng ta cần đến tư liệu vật thật mà khảo cổ học cung cấp.

2. Kinh đô Cổ Loa qua tư liệu khảo cổ học  

2.1. Kết quả nghiên cứu các di tích khảo cổ học

Trong lòng đất và trên mặt đất khu di tích Cổ Loa và vùng lân cận còn lưu nhiều dấu tích văn hóa – lịch sử của nhiều thời kỳ từ tiền-sơ sử và lịch sử có đặc trưng, tính chất, chức năng và quy mô khác nhau.

a) Tình hình phân bố di tích

Đông Sơn, là Đường Mây, Mả Tre, Đền Thượng, Xóm Thượng, Xóm Nhồi, Xóm Hương. Khu vực ngoại thành, có 6 di tích, trong đó có 2 di tích tiền Đông Sơn (Đồng Vông, Tiên Hội), 2 di tích thuộc văn hoá Đông  Sơn (Bãi Mèn, Cầu Vực) và 2 di tích có từ 2 đến 4 lớp văn hoá (Đình Tràng: 4 lớp từ Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn và Bãi Mèn với 2 lớp văn hoá: Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm và Đông Sơn hay giai đoạn Cổ Loa). Các di tích văn hoá Đông Sơn muộn - giai đoạn tương đương với việc An Dương Vương định đô, đắp thành) phân bố chủ yếu trong khu vực 3 vòng thành (7/10 di tích Đông Sơn). Điều đáng chú ý là, có 3 di tích: Xuân Kiều - giai đoạn tiền Đông Sơn và 02 di chỉ giai đoạn Đông Sơn sắt sơ kỳ là Đường Mây và di tích lũy phòng thủ tại xóm Thượng bị vòng thành Ngoại và thành Trung đắp đè lên. Tình hình này phù hợp với các truyền thuyết cho rằng, khi An Dương Vương đắp thành Cổ Loa, ông đã dời cư dân vốn đã sống lâu đời ở đây đến vùng đất bãi cuối sông Hoàng, khai phá đất lập nên 3 làng mới mang tên: Quậy Cả, Quậy Rào, Quậy Con - nay là 3 thôn: Đại Vĩ, Giao Tất, Châu Phong thuộc xã Liên Hà, phía đông bắc Cổ Loa hiện nay[2].

b) Về  tính chất di tích

- Các địa điểm cư trú: Đồng Vông, Bãi Mèn, Tiên Hội, Xuân Kiều, Đình Tràng và Đường Mây (riêng Đình Tràng có 03 tính chất: cư trú - xưởng - mộ táng).

- Các địa điểm là kho cất giữ tài sản, vũ khí: Cầu Vực, Xóm Hương, Xóm Nhồi, Mả Tre (di tích Cầu Vực, Mả Tre có thể còn có tính chất xưởng luyện kim - đúc đồng).

- Các địa điểm là nơi sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và vũ khí: hệ thống lò nung (phía tây nam thành Nội), di tích bếp lò (trong mắt rồng phải ở Đền Thượng), di tích xưởng luyện đúc đồ đồng ở Đình Tràng, dấu tích về xưởng đúc kim loại ở Mả Tre, Cầu Vực và xưởng đúc mũi tên đồng ở Đền Thượng (Hình 2).

- Các địa điểm là mộ táng các giai đoạn từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn và sau Đông Sơn đều phát hiện được ở ngoại thành. Mộ giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên ở Đông Vông, Bãi Mèn Đình Tràng; mộ giai đoạn văn hoá Đồng Đậu ở Đình Tràng; mộ Đông Sơn ở Bãi Mèn và Đình Tràng; mộ thuộc các thời kỳ Bắc thuộc ở Mả Cơ, Mả Lẽ, Dục Tú, Đông Hội… Việc phát hiện di tích 2 ngôi mộ gạch chôn trong các lớp đất đắp thành Ngoại tại xóm Vang, nằm trên lớp văn hóa Đông Sơn - di chỉ cư trú Đường Mây đã cho thấy, An Dương Vương đắp thành đè lên di chỉ cư trú Đông Sơn, sau đó, khi thành Cổ Loa thất thủ, nhà Hán đã chiếm thành rồi đóng trị sở ở đó và khi có người chết, đã chôn ngay tại vòng thành Ngoại Cổ Loa - khác với phong tục truyền thống ở đây là người chết chỉ được chôn ở ngoài thành. 

- Các địa điểm là công trình phòng thủ (quân sự): Thành Cổ Loa, dãy lũy đất ở địa điểm Bãi Miễu, dãy gò ở Dục Nội, dấu vết hệ thống chân cọc gia cố lũy đất ở Đình Tràng (Dục Tú) và di tích thành - hào - vọng gác + tường chắn phát hiện dưới thành Trung tại Xóm Thượng (Cổ Loa).

- Các di tích kiến trúc tôn giáo thờ tự An Dương Vương, Hoàng gia và triều đình Âu Lạc trong khu di tích Cổ Loa và Bát xã Loa thành (các xã có di tích thờ tự An Dương Vương, Mỵ Châu...), như: đình An Dương Vương, Đền Thượng (đền An Dương Vương), am Mỵ Châu, đếm thờ tướng Cao Lỗ và Nồi Hầu, đình các làng Mạch Tràng, Cầu Cả, Thư Cưu đều thờ An Dương Vương và có am nhỏ thờ Mỵ Châu công chúa,...

c) Diễn trình phát triển văn hoá khảo cổ

Nghiên cứu khảo cổ học Cổ Loa cho đến nay, chúng ta đã có đủ tư liệu để hệ thống và xây dựng một phổ hệ phát triển văn hoá khảo cổ từ tiền Đông Sơn đến Đông Sơn trong bối cảnh phát triển của văn minh Sông Hồng.

- Giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên (4.000BP), gồm các di tích: Đông Vông, Bãi Mèn (lớp dưới), Đình Tràng (lớp văn hoá thứ tư).

- Giai đoạn văn hoá Đồng Đậu (3.500 BP), gồm các di tích: Tiên Hội, Xuân Kiều, Bãi Mèn (lớp giữa), Đình Tràng (lớp văn hoá thứ ba).

- Giai đoạn văn hoá Gò Mun (3.000BP), có lớp văn hoá thứ hai ở Đình Tràng.

-  Giai đoạn văn hoá Đông Sơn (2.800 BP) (hay giai đoạn văn hoá Cổ Loa), gồm các di tích: Bãi Mèn (lớp văn hoá trên cùng), Đường Mây, Đình Tràng (lớp văn hoá thứ nhất với tính chất cư trú – mộ táng), Cầu Vực, Mả Tre, Xóm Hương, Xóm Nhồi, di tích đúc mũi tên đồng Đền Thượng, Xóm Thượng, Bãi Miễu và di tích ba vòng thành Cổ Loa.

- Thời kỳ sau giai đoạn văn hoá Đông Sơn, ở khu di tích Cổ Loa phát hiện, khai quật và nghiên cứu một loạt di tích, chủ yếu là mộ gạch, khẩu giếng bằng đất nung thời Đông Hán (Thế kỷ 1-3 AD), mộ gạch thế kỷ VII - IX, hệ các di tích thờ tự An Dương Vương và Mỵ Châu thế kỷ XVIII – XIX, hệ thống các lò nung gốm, gạch và ngói thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XX.

2.2. Kết quả nghiên cứu về thành Cổ Loa

a) Diễn biến các lớp đào

Thành Cổ Loa đã được khai quật 5 lần ở cả 3 vòng thành.

- Thành Ngoại được cắt 02 lần tại xóm Mít, năm 1970 và tại xóm Thượng năm 2012.

- Thành Trung được khai quật tại xóm Thượng, năm 2007-2008.

- Thành Nội được khai quật 02 lần với 02 lần: 01 hố ở Đền Thượng, năm 2005 và 03 hố tại xóm Hương và 01 hố ở xóm Lan Trì năm 2014.

Cấu tạo các lớp đất đắp ở thành Trung và thành Ngoại khá giống nhau, với 4 lớp đất đắp trải qua 3 giai đoạn: trước An Dương Vương, An Dương Vương và sau An Dương Vương (Bảng 1).

b) Về di tích

Trong 5 lần cắt 3 vòng thành Cổ Loa, đã phát hiệu được 04 di tích quan trọng.

Thứ nhất là phát hiện lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới thành do An Dương Vương đắp trong hố khai quật thành Trung năm 2007-2008. Trong lớp văn hóa Đông Sơn ở đây, cùng với đồ gốm, hiện vật sắt, đã phát hiện được di tích phòng thủ có quy mô nhỏ hơn và khác phương vị với thành Cổ Loa của An Dương Vương. Di tích có cấu trúc (từ ngoài vào trong) là: Hào -Tường thành - Hào - Vọng gác + tường chắn. Trong nền của vọng gác còn phát hiện được di tích bếp lửa, hiện vật sắt và gốm Đông Sơn (Hình 4).

Phát hiện thứ hai là nền gia cố bằng đất gốc trước khi đắp thành trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012.

Phát hiện thứ ba trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012 tại xóm Thượng. Theo các chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản, có một số hiện tượng lạ trong cấu trúc của đất đắp thành có thể là dấu vết của hiện tượng động đất. Vấn đề này đang tiếp tục được nghiên cứu. Nếu hiện tượng động đất được xác nhận, cũng đồng thời xác nhận cốt lõi của truyền thuyết thần Kim Quy/ Thanh Giang xứ được Huyền Thiên Trấn Vũ sai xuống giúp An Dương Vương khắc phục hiện tượng “thành cứ xây xong lại đổ”.

Phát hiện thứ tư gần đây nhất (2014) trong hố cắt thành Nội và ụ hỏa hồi tại thôn Hương đã phát hiện được di tích gốc của thành Nội và ụ hỏa hồi trong cùng bình diện xuất lộ, nằm dưới mặt thành Nội hiện nay khoảng trên 2m. Đây là phát hiện quan trọng khẳng định An Dương Vương đã đắp cả 3 vòng thành và hệ thống ụ hỏa hồi trong hệ thống thành Nội cũng được An Dương Vương đắp cùng với thành Nội[3].

 

Hình 3-5: Di tích lò đúc mũi tên đồng, mang khuôn đúc mũi tên và đầu ngói ống tìm thấy tại di tích đền Thượng (Cổ Loa). (Ảnh: Lại Văn Tới)

 
Hình 6: Hiện vật trên mặt thành Trung, Cổ Loa, thời An Dương Vương. (Ảnh: Lại Văn Tới)
 
Hình 7: Các giai đoạn đắp thành Trung và công trình phòng thủ sớm. (Ảnh: Lại Văn Tới)
 

Hình 8: Nền gia cố trước khi đắp thành (màu đen dưới cùng) và các lớp đắp thành Ngoại Cổ Loa.

(Ảnh: Lại Văn Tới)

 

c) Di vật

Di vật thu được trong 03 lớp thành trước An Dương Vương, thành do An Dương Vương đắp và thành sau An Dương Vương khá rõ ràng. Di vật trong lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới lớp thành của An Dương Vương là loại gốm Đông Sơn màu nâu sẫm giống gốm Đông Sơn ở di tích Làng Cả (Phú Thọ) và một số hiện vật sắt. Di vật ở lớp thành An Dương Vương đắp là “gốm Cổ Loa”, đồ đá (cuội). Điều đặc biệt là gốm Cổ Loa chỉ có ở 02 rìa cạnh trong và ngoài mặt thành. Đồ đá chủ yếu là cuội kích thước lớn và loại đá cát được dùng làm khuôn đúc mũi tên đồng. Giữa mặt thành không có gốm Cổ Loa và đá. So với mặt thành Cổ Loa hiện nay, lớp gốm Cổ Loa và đá cách mặt đất khoảng trên dưới 1m (Hình 3).

Hiện tượng xuất lộ gốm Cổ Loa ở hai bên rìa cạnh mặt thành được các nhà khảo cổ học Mỹ cho rằng, có thể chúng được lợp trên mái các vọng gác để chống mũi tên, “đạt lửa” bắn.  Khi bị sập đổ, ngói rơi xuống hai bên mái, nên hiện nay chúng ta chỉ thấy chúng có ở rìa cạnh hai bên mặt thành. Lý giải này phù hợp với hiện trạng phát hiện ngói Cổ Loa phần lớn là mảnh vỡ, trừ một số viên ngói ống phát hiện trong hố khai quật tại Đền Thượng năm 2007-2008[4].

d) Về các lần đắp thành

Căn cứ vào cấu tạo và sự khác biệt trong cấu trúc, kết cấu các lớp đất đắp thành trong các hố khai quật thành Ngoại, thành Trung và thành Nội, chúng tôi phân thành 04 lớp tương đương với 03 lần đắp thành như sau:

 

Bảng 1. Diễn biến các lớp đất và các lần đắp thành
 

Qua bảng trên cho thấy:

- Di tích phòng ngự có cấu trúc: Hào - Thành - Hào - Nền + Tường chắn có trước thời An Dương Vương;

- An Dương Vương đắp thành Cổ Loa 03 đợt:

+ Đợt 1: Gia cố nền (thành Ngoại) và đắp đất bằng cách đổ tự nhiên trùm lên trên nền gia cố (thành Ngoại) và trùm lên di tích Phòng thủ (thành Trung) (Hình 4-5);

+ Đợt hai: Mở rộng thành sang hai bên.

+ Đợt ba: Đắp theo từng lượt có san và đầm nện chặt. Lớp trên cùng có gốm Cổ Loa.

- Trên lớp gốm Cổ Loa là các đợt đắp, tu bổ thành Cổ Loa sau thời An Dương Vương.

e) Về niên đại

Niên đại thành Cổ Loa đã được xác định niên đại tuyệt đối[5], kết quả nêu trong bảng kê dưới đây.

 

Bảng 2. Niên đại C14 của mẫu thân trong khu vực có ngói Cổ Loa trong giai đoạn xây thành thứ 3
 
Bảng 3. Vị trí các mẫu than và niên đại C14
 
Bảng 4. Niên đại C14 các mẫu than phát hiện cùng với gốm Đông Sơn giai đoạn muộn nền cấu trúc và trong hào của gò nền

 

 


* Hiệu chỉnh cho R.W. Reimer và nnk (2004), Radiocarbon 46: 1029 - 1058.

 

2.3. Kết quả nghiên cứu về nhà nước Âu Lạc (thế kỷ 3-2BC)

a) Quá trình hình thành

Khảo cổ học khu vực Cổ Loa đã cung cấp nhiều chứng cứ của một nền nông nghiệp phát triển mạnh, cuộc sống của cư dân ổn định và giàu có. Những tiền đề vật chất do các lớp cư dân xây dựng nên trong quá trình cư trú, lao động, sáng tạo là công cuộc tích lũy về lượng tạo nên sự chuyển biến về chất trong quá trình phát triển của khối cộng đồng cư dân Cổ Loa thời Đông Sơn nói riêng và cộng đồng cư dân Đông Sơn nói chung.

Nền nông nghiệp quảng canh và thâm canh thời Đông Sơn ở Cổ Loa được chứng minh qua bộ sưu tập hơn 100 lưỡi cày đồng hình tim trong trống đồng Cổ Loa cùng nhiều loại công cụ làm đất như: rìu, cuốc, xẻng, mai và công cụ thu hoạch như liềm, nhíp, các đồ vật cất giữ lương thực bằng đất nung, đồng thau cùng với những vết tích của nghề trồng rau màu, nghề chăn nuôi,....

Với cơ cấu giống lúa đa dạng, các công cụ sản xuất tiên tiến, nguồn nước tưới tiêu đã chủ động, nông dân tích lũy nhiều kinh nghiệm,... nên năng suất lao động và sản lượng lúa tăng cao. Các ngành chăn nuôi, hoa màu cũng khá phát triển. Tất cả góp phần tạo nên sự ổn định của nền kinh tế. Trên nền tảng đó, đời sống của cư dân được đảm bảo hơn. Cư dân nông nghiệp không chỉ đủ ăn mà đã có tích lũy ban đầu. Chính những điều này làm cho cơ cấu xã hội trong công xã bắt đầu rạn nứt, xuất hiện những nhân tố mới, bên cạnh đại bộ phận nông dân công xã đã xuất hiện những người có thế lực kinh tế - họ là những người giàu có hơn. Kết cấu Chiềng-Chạ bắt đầu quá trình tan vỡ.

Nông nghiệp phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp. Cộng đồng cư dân Đông Sơn ở Cổ Loa tiếp tục duy trì truyền thống của nghề chế tạo đồ đá, đồ gốm và phát triển nghề luyện kim, đồ mộc, đan lát, dệt vải,…. Sự phát triển của các nghề thủ công làm cho nền kinh tế có nhiều bước tiến mới và hệ quả tất yếu của nó là kéo theo sự thay đổi, sự phân hóa ngày càng mạnh mẽ trong cơ cấu công xã nông thôn. Trong nội bộ cộng đồng đã có sự phân hóa thành các tầng lớp, mâu thuẫn quyền lợi, xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng trở nên nhức nhối trong cộng đồng. Thực trạng xã hội khi đó đòi hỏi phải có một người đứng lên điều khiển hoạt động sản xuất và dung hòa các mâu thuẫn. Trên cơ sở đó chế độ thủ lĩnh ra đời (các Vua Hùng thời nước Văn Lang và An Dương Vương thời nước Âu Lạc). Đời sống vật chất ổn định và từng bước được nâng cao là tiền đề để cư dân Đông Sơn nói chung và cư dân Đông Sơn Cổ Loa nói riêng xây dựng cho mình đời sống tinh thần phong phú, thúc đẩy mọi hoạt động của xã hội.

Khi cuộc sống hàng ngày được đảm bảo, ổn định thì cư dân có điều kiện nâng cao đời sống tinh thần, phát triển nhân sinh quan, thế giới quan của mình. Đời sống tinh thần là hệ quả của đời sống vật chất. Chính năng suất lao động tăng cao, nguồn lương thực dồi dào không chỉ nuôi sống những người trực tiếp sản xuất ra lúa gạo mà còn đủ dùng để nuôi những thợ thủ công – những người nông dân phi nông nghiệp. Chính năng suất lao động cao cũng làm cho tâm lý cư dân khoáng đạt hơn, bay bổng hơn để sáng tạo ra được những sản phẩm tinh thần phong phú như nghệ thuật tạo hình, âm nhạc. Đến lượt mình, khi đời sống tinh thần tác động lại đời sống vật chất, công việc đồng áng, thủ công nghiệp.

Đời sống tinh thần phong phú nhất là về mặt nghệ thuật tạo hình đã giúp cho việc sản xuất những đồ vật biểu trưng cho tôn giáo, quyền lực ảnh hưởng và thúc đẩy quá trình tập quyền, phục vụ cho tầng lớp quyền lực có được các sản phẩm đó.

Năng suất lao động tăng cao, của cải dư thừa thường xuyên xuất hiện. Trong nội bộ cộng đồng xuất hiện một số cá nhân bao chiếm quyền lợi kinh tế đã làm tăng nhanh số lượng tài sản của mình. Nguyên tắc vàng trong xã hội nguyên thủy bị phá vỡ, xã hội bắt đầu có sự phân hóa và hình thành những giai tầng. Điều này cũng là hình ảnh khúc xạ của sự phân hóa xã hội mới đang trong quá trình diễn tiến, chứ chưa thật sự sâu sắc. Điều này bắt nguồn từ cơ sở kinh tế chủ đạo của cư dân làm kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước và lối sống trọng tình láng giềng của ông cha ta.

b) Tình hình phân hóa xã hội

Qua nghiên cứu tình hình phân bố các địa điểm khảo cổ học tiền Đông Sơn và Đông Sơn ở Cổ Loa cho thấy: Từ giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn và đặc biệt là đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, cư dân ở đây đã cư trú ổn định và tập trung thành những trung tâm lớn trong ba khu vực: Ở phía Nam thành Cổ Loa với di tích Bãi Mèn là trung tâm cùng với các di tích Đồng Vông (thuộc văn hóa Phùng Nguyên), Tiên Hội (thuộc văn hóa Đồng Đậu) và Cầu Vực (thuộc văn hóa Đông Sơn). Ở phía Bắc thành Cổ Loa với Di chỉ Đình Tràng trải qua quá trình phát triển lâu dài và liên tục từ các giai đoạn văn hóa tiền Đông Sơn đến Đông Sơn cùng với di chỉ Đình Chiền (thuộc văn  hóa Phùng Nguyên và trống đồng loại I thu nhỏ Hà Phong (xã Liên Hà); Ở khu vực trung tâm thành Cổ Loa với di tích Mả Tre là trung tâm cùng với xưởng đúc mũi tên đồng Đền Thượng và các di tích Đông Sơn khác như Đường Mây, Xóm Thượng, Xón Nhồi, Xóm Hương.  

Nếu như ở các giai đoạn tiền Đông Sơn, chỉ có các nghề thủ công mới hình thành những bộ phận, những làng nghề, những trung tâm sản xuất tách khỏi sản xuất nông nghiệp, còn các ngành thủ công sản xuất ra các đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn tồn tại đan xen nhau bên cạnh sản xuất nông nghiệp. Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, mỗi trung tâm như Bãi Mèn, Đình Tràng và Mả Tre đều có đầy đủ các ngành kinh tế, trong đó ngành luyện kim đúc đồng giữ vai trò chủ đạo, là bệ đỡ để các ngành kinh tế khác phát triển và thúc đẩy sự phân hóa xã hội ngày một sâu sắc thêm.

Sự phân hóa xã hội trong cộng đồng cư dân Đông Sơn ở Cổ Loa thể hiện trước hết ở sự phân hóa giàu nghèo. Ở Cổ Loa tồn tại hai hiện tượng: những ngôi mộ có số lượng hiện vật không nhiều lắm, chủ yếu là vũ khí, công cụ sản xuất, cho thấy chủ nhân của ngôi mộ chưa hoàn tòan tách khỏi sản xuất. Hiện tượng thứ hai là những nơi chôn giấu tài sản có thể của các thủ lĩnh giàu có và giữ vai trò, địa vị cao trong xã hội, như sưu tập trên 200 hiện vật Đông Sơn trong trống đồng Cổ Loa, kho cất giữ 1 vạn mũi tên đồng ở Cầu Vực, sưu tập trên 50 hiện vật Đông Sơn ở Xóm Nhồi… cho thấy sự phân hóa xã hội trong cộng đồng cư dân Đông Sơn ở Cổ Loa đã sâu sắc và số lượng lớn vũ khí chắc hẳn dùng để  giải quyết mâu thuẫn trong các cuộc xung đột trong cộng đồng thậm chí có thể đã diễn ra những cuộc chiến tranh giữa cộng đồng người Việt cổ đối với những cộng đồng láng giềng.

Một số cuộc chiến tranh như vậy đã được phản ảnh trong bộ sưu tập hiện vật của nền văn hóa Đông Sơn rõ nét. Qua đó, có thể nói rằng vào thời kỳ văn hóa Đông Sơn đã có chiến tranh và có thể ở góc độ nào đó, chính chiến tranh cũng là sức ép để hình thành nên một hệ thống quyền lực chi phối nó, chính là nhà nước sơ khai trong giai đoạn này.

Tòan bộ quy mô và kích cỡ của thành Cổ Loa và những công trình phòng thủ hoành tráng của nó đã gợi ý rằng một cấp độ cao của sự tập trung chính trị là cần thiết để quy hoạch xây dựng và huy động nguồn lực cần thiết. Trước khi thành Cổ Loa được xây dựng, chưa có một di tích nào được xây dựng ở lưu vực (châu thổ) sông Hồng mà có kích cỡ và diện tích lớn như thành Cổ Loa, và để xây dựng được thành lớn như Cổ Loa chắc chắn cần phải có một lực lượng quân sự hùng mạnh và sự quản lý kiểu nhà nước và tập trung hóa đáng kể[6] (Larew 2003: 41).

Sự hiện diện của hai hệ thống phòng thủ khác nhau về mặt văn hóa và có quy mô rất khác nhau nói lên một khả năng rằng sự cạnh tranh và chiến tranh giữa các cộng đồng tự trị, phi nhà nước trong một khu vực có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự củng cố quyền lực cấp nhà nước và trong bảo vệ an ninh của nó. Vì thế, mặc dù không đủ điều kiện, nhưng chiến tranh là điều kiện cần thiết và chủ chốt cho việc hình thành nhà nước sớm. Một khi nhà cầm quyền đã được củng cố tòan diện, một trung tâm sơ đô thị được thành lập tại Cổ Loa và các thành lũy này sẽ phục vụ cả mục đích quân sự thực tế về phòng thủ và sự biểu hiện mang tính biểu tượng và tư tưởng có sức mạnh to lớn. Do đó, củng cố chính trị tại Cổ Loa là một trường hợp quan trọng để nghiên cứu về sự tiến hóa xã hội[7].

C. Mác đã nói: “Thành lũy xuất hiện là dấu hiệu chứng tỏ chiến tranh đã trở thành một hiện tượng thường xuyên trong xã hội”. Theo ý nghĩa đó thì thành Cổ Loa là một tiêu chí quan trọng để nghiên cứu về quan hệ xã hội của nhà nước Âu Lạc trong đó nhân dân Âu Lạc sống và làm việc như thế nào? Cổ Loa với những thành lũy được xây dựng nhiều tầng, nhiều lớp lại là minh chứng rõ rệt cho sự phân hóa giai cấp sâu sắc trong nội bộ xã hội Âu Lạc. Dân bị đuổi để Vua chiếm đất xây thành. Dân đổ sức, mồ hôi và nước mắt đắp nên thành nhưng họ không được thành đó bảo vệ. Đó cũng là biểu hiện của mâu thuẫn thường xuyên, cố hữu của những xã hội dựa trên sự đối kháng giai cấp: Bất cứ một tiến bộ xã hội nào đều đồng thời làm thiệt hại đến lợi ích của quần chúng lao động cơ bản, đánh dấu một bước lùi trong tình cảnh của những giai cấp bị áp bức, nghĩa là của đại đa số người. Như P. Anghen nói thì hào sâu của Cổ Loa là mồ chôn chế độ cộng đồng nguyên thủy và những vọng gác thành đã dựng lên sừng sững trong thời đại văn minh.

Bất kỳ một hình thái xã hội nào cũng đều phải dựa vào cơ tầng vật chất và kinh tế. Sức sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tất yếu nảy sinh sự phân hóa xã hội, có sự phân chia giàu nghèo, hình thành các giai tầng xã hội trong đó có vai trò của các thủ lĩnh cộng đồng.

Thục Phán – An Dương Vương trong bối cảnh của thời đại Kim khí là thủ lĩnh luyện kim hay thủ lĩnh quân sự hay vừa là thủ lĩnh luyện kim, vừa là thủ lĩnh quân sự? Tư cách nào đã tạo nên sức mạnh có thể quy tụ các bộ lạc đoàn kết trong cuộc chiến tranh của nhà Tần thôn tính các tộc Bách Việt.

Trống đồng Đông Sơn – biểu tượng quyền lực của các thủ lĩnh. Thục Phán – An Dương Vương là thủ lĩnh của tộc người Việt ở khu vực Cổ Loa. Dựa trên các luận điểm vừa phân tích ở trên, thì Thục Phán – An Dương Vương là người rất giàu có, có uy tín lớn trong cộng đồng. Và Cổ Loa hội đủ điều kiện là trung tâm nghi lễ, nơi đóng đô của tổ chức quyền lực – kinh đô của Nhà nước. Đến lúc này, có thể khẳng định đã có đủ những tiền đề vật chất và tiền đề xã hội đưa tới sự ra đời của Nhà nước.

2.4. Sự thành lập nhà nước Âu Lạc

a) Nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương

Xung quanh vấn đề lịch sử nước Âu Lạc và nhân vật trung tâm là Thục Phán - An Dương Vương đến nay vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết, trước hết là vấn đề nguồn gốc Thục Phán.

Thư tịch xưa nhất của Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng Châu Ký,… đều chép An Dương Vương là “con Vua Thục”, nhưng không cho biết rõ xuất sứ của Vua Thục và cả tên của An Dương Vương. Đại Việt sử lược chép về nguồn gốc của An Dương Vương: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con Vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay” và cho biết: An Dương Vương tên là Phán nhưng cũng không nói rõ là người ở đâu.

Từ thế kỷ XV, trong chính sử, An Dương Vương – Thục Phán được coi là con Vua Thục, người Ba Thục và niên đại thành lập nước Âu Lạc được xác định là năm Giáp Thìn, Chu Noãn Vương thứ 58, tức năm 257 TCN. Đến thế kỷ XIX, thuyết đó bắt đầu bị hoài nghi hoặc phủ định.

Nguyễn Văn Siêu (1795 – 1872) gần như phủ định thuyết chính thống, coi những ghi chép của sử cũ về An Dương Vương theo Quảng Châu ký là nhầm lẫn[8]. Các tác giả bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục nêu lên nghi vấn về mốc thời gian giữa hai sự kiện và đối chiếu với lịch sử Trung Quốc đương thời.

Dưới thời Pháp thuộc, xu hướng hoài nghi hoặc phủ định càng có chiều hướng phát triển. Tiêu biểu là Trần Trọng Kim và Ngô Tất Tố[9].

Từ sau cách mạng tháng Tám nhất là từ những năm 1960 trở lại đây, nghiên cứu về An Dương Vương được coi như việc nghiên cứu một giai đoạn của thời đại dựng nước, ngày càng được quan tâm và thu được một số thành tựu mới. Riêng vấn đề nguồn gốc An Dương Vương và sự thành lập nước Âu Lạc cũng có những tìm tòi, phát hiện mới về tư liệu và trên cơ sở đó những giả thiết mới được đặt ra.

Năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương – Thục Phán được công bố đó là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng Vùa” của dân tộc Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này, Thục Phán là con Thục Chế, “Vua”của “nước Nam Cương” ở vùng Cao Bằng, Quảng Tây hiện nay mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng). Nam Cương gồm 10 xứ Mường[10].

Dựa vào các tài liệu thư tịch, tài liệu khảo cổ học đặc biệt là bộ sưu tập trống đồng và nhiều hiện vật đồng giai đoạn văn hóa Đông Sơn ở đầu nguồn sông Hồng thuộc thành phố Lào Cai, các phát hiện và nghiên cứu của các ngành dân tộc học, ngôn ngữ học, địa danh,... đã củng cố quan điểm cho rằng An Dương Vương có nguồn gốc Tày – Thái cổ. An Dương Vương là thủ lĩnh có uy tín của liên minh bộ lạc Tây Âu sống liền kề với bộ lạc Lạc Việt chứ không phải con vua Thục ở Tứ Xuyên. Địa bàn cư trú của Thục Phán – An Dương Vương trải dài từ Cao Bằng đến Lào Cai hiện nay. Trong tâm thức của người dân Cổ Loa, món bánh chưng Tày là lễ vật cũng là món bánh không thể thiếu trong các dịp lễ tết của làng[11].

b) Quan hệ Hùng – Thục

Giữa người Lạc Việt và người Tây Âu cũng như giữa Hùng và Thục đã có nhiều quan hệ gắn bó lâu đời. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán là “dòng dõi”, “tông phái” hay “cháu ngoại” của Vua Hùng. Những thần tích chép Thục Phán là “bộ Chúa Ai Lao” hay “phụ đạo Ai Lao” thì cũng coi là người đứng đầu một bộ như 15 bộ của nước Văn Lang, cũng thuộc “dòng dõi” vua Hùng.

Nhưng mặt khác, vào cuối thời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xảy ra một cuộc xung đột kéo dài. Nhiều làng vùng trung du lưu vực sông Hồng thờ Thánh Tản Viên và những bộ tướng của Vua Hùng đã từng theo Thánh Tản Viên “đánh giặc Thục”.

Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì người Văn Lang cũng như người Lạc Việt, Tây Âu cùng tòan bộ những nhóm người Việt trong tộc Bách Việt đứng trước một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm – nạn xâm lược đại quy mô của đế chế Tần. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã cắt nghĩa tại sao cuộc xung đột Hùng – Thục lại kết thúc bằng sự nhường ngôi của Hùng Vương cho Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc. Nước Âu Lạc thành lập như một bước phát triển kế tục của nước Văn Lang, một sự hợp nhất ở mức độ cao hơn, phạm vi rộng hơn của người Lạc Việt và người Tây Âu. Cuộc xung đột Hùng – Thục không dẫn đến chỗ thôn tính, tiêu diệt nhau mà lại kết thúc bằng sự nhường ngôi của Hùng Vương và bằng sự hợp nhất cư dân, đất đai để thành lập nước Âu Lạc.

Về văn hóa khảo cổ, những xung đột này là biểu hiện của quá trình đấu tranh – hòa hợp giữa các bộ phận, các loại hình của văn hóa Đông Sơn để thống nhất ở đỉnh cao của văn hóa Đông Sơn đưa tới sự hình thành của Nhà nước sơ khai.

c) Cuộc kháng chiến chống Tần

Năm 221 TCN, nước Tần tiêu diệt 6 nước, kết thúc cục diện “thất hùng” thời Chiến quốc, thâu tóm tòan bộ lãnh thổ Trung Quốc. Vua Tần là Doanh Chính tự xưng là Tần Thủy Hoàng đế, thiết lập một nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế.

Cùng với một số chính sách tích cực nhằm củng cố và phát triển đất nước, nhà Tần đã mở những cuộc chiến tranh chinh phục đại quy mô, bành trướng mạnh mẽ về phía Bắc và chủ yếu về phía Nam, lập thành một đế chế rộng lớn đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Ở phía bắc, nhà Tần xâm chiếm Hung Nô. Về phía Nam, nhà kế tục và phát triển chủ trương “bình Bách Việt” đã phái 50 vạn quân xâm lược đất đai của Bách Việt ở phía Nam Trường Giang.

Thư tịch của Trung Quốc là Sử kí, Hoài Nam Tử có ghi chép về cuộc xâm lược Bách Việt của Tần Thủy Hoàng. Từ những cứ liệu trên, có thể tạm xác định nhà Tần phát binh bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt vào năm 218 TCN.

Trong 3 năm (218 – 215 TCN) quân Tần vừa phải đào kênh, vừa phải đối phó với cuộc chiến đấu của người Việt nên “ba năm không cởi giáp, giãn nỏ”. Sau đó, nhờ Linh Cừ, quân Tần theo sông Ly (sông Quế) tiến vào lưu vực Tây Giang – địa bàn người Tây Âu. Quân Tần đã giết chết một tù trưởng người Tây Âu là Dịch Hu Tống nhưng gặp sức kháng cự quyết liệt của người Việt.

Thục Phán vốn là một thủ lĩnh của người Tây Âu trên địa bàn phía Bắc nước Văn Lang bấy giờ gồm cả một phần Nam Quảng Tây, mà trung tâm là Cao Bằng. Sau khi một tù trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống hy sinh, Thục Phán cùng nhiều thủ lĩnh người Tây Âu và Lạc Việt khác đã tiếp tục tổ chức cuộc chiến đấu chống quân Tần.

Cuộc kháng chiến mưu trí, bền bỉ của người Việt đã làm cho quân Tần “lương thực bị tuyệt và thiếu”, “đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong”. Quân giặc ngày càng bị dồn vào tình trạng căng thẳng, nguy khốn đến tuyệt vọng. Cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt của nhà Tần kéo dài 10 năm (218 – 208 TCN). Nhiều nhóm người Việt đã tham gia cuộc kháng chiến chống Tần, góp phần tiêu diệt quân Tần. Cuộc kháng chiến chống Tần của nhân dân ta, của người Tây Âu và Lạc Việt trên địa bàn nước Văn Lang – Âu Lạc lúc bấy giờ kéo dài khoảng 5, 6 năm tính từ năm 214 – 208 TCN.

Trải qua cuộc kháng chiến chống Tần, Thục Phán đã gây dựng được uy tín rất lớn trong các bộ lạc Lạc Việt – Tây Âu, cho nên sau khi kháng chiến thành công, hoặc Thục Phán đã thừa uy thế của mình mà lật đổ ngôi thủ lĩnh bộ lạc liên hiệp của Lạc vương để tập hợp các bộ lạc đã tham gia kháng chiến hoặc Thục Phán đã tập hợp các bộ lạc thành lập nước Âu Lạc – tương đối chặt chẽ hơn liên minh bộ lạc.

d) Sự thành lập nước Âu Lạc

Cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi là nguyên nhân trực tiếp đưa tới sự ra đời của Nhà nước Âu Lạc, nhưng nguyên nhân sâu xa đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất trong các cộng đồng cư dân người Việt cổ đưa tới yêu cầu cần phải có một tổ chức cao hơn đứng ra quản lý mọi hoạt động của bộ lạc và bảo vệ các thành viên, biên giới bộ lạc; đưa bộ lạc trở nên hùng mạnh.

Trong cuộc kháng chiến, trên thực tế, cộng đồng cư dân Lạc Việt – Tây Âu đã hình thành. Nhưng việc Thục Phán thay thế Hùng Vương tự xưng là An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc có lẽ được thực hiện sau khi kháng chiến thành công. Đại Việt sử lược chép rằng: “Hùng Vương bị con Vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay”.  Một số thần tích và truyền thuyết dân gian lại cho rằng, sau nhiều cuộc xung đột, cuối cùng Hùng Vương theo lời khuyên của con rể là Thánh Tản Viên đã nhường ngôi cho Thục Phán” (trích Thục An Dương Vương sự tích và truyền thuyết dân gian vùng đền Hùng).

Sự thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của một cuộc chiến tranh tiêu diệt, thôn tính mà là sự hợp nhất của cư dân và đất đai của Lạc Việt và Tây Âu, của Hùng và Thục. Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục và cao hơn của nước Văn Lang.

e) Cơ cấu tổ chức và hoạt động của nhà nước Âu Lạc

Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Do đó, thời gian tồn tại của nhà nước Âu Lạc không tách ra thành một thời kỳ lịch sử riêng mà được coi như một giai đoạn phát triển của nhà nước Văn Lang và cũng nằm trong một thời đại chung: Thời đại dựng nước Hùng Vương và An Dương Vương, và xét về tổ chức nhà nước thì nó được xếp vào loại hình nhà nước sơ khai.

Về cơ cấu tổ chức: Dưới thời An Dương Vương, tổ chức bộ máy cai trị vẫn theo mô hình nhà nước thời Hùng Vương. Đứng đầu là An Dương Vương, giúp việc cho Vua là các Lạc hầu, Lạc tướng. Cả nước được chia thành những đơn vị hành chính lớn nhỏ. Đơn vị hành chính lớn là các bộ do Lạc tướng đứng đầu, dưới bộ là các xóm, làng do Bồ chính (già làng) cai quản.

Về dân cư nước Văn Lang đời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là Âu Việt) ở miền núi rừng và trung du phía Bắc, hai thành phần cư dân sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Dấu tích cư trú của cư dân là các di vật tìm được trong phạm vi ba vòng thành, những di tích trong vòng Thành Nội.

Với mật độ di chỉ khá dày đặc và số lượng lớn hiện vật phát hiện được trong các di chỉ này đã cho thấy, những làng định cư nông – chài – thủ công – buôn bán ở bên ngoài thành Cổ Loa thời An Dương Vương đã đông đúc, trình độ kinh tế - xã hội – văn hóa cao, có tổ chức, có sự quản lý của Nhà nước.

Về phân bố khu vực sản xuất: Ở khu vực ngoại thành, chúng ta biết đến khu luyện kim ở Cầu Vực (phía Nam thành Cổ Loa), xưởng đúc đồng ở Đình Tràng (phía Đông Bắc). Trong nội thành, đã phát hiện ba bộ sưu tập đồng lớn và khả năng đều là những xưởng đúc đồng ở Mả Tre, Xóm Nhồi, Xóm Hương. Những tư liệu trên cho thấy Cổ Loa là trung tâm luyện kim lớn.

Do yêu cầu bức thiết của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, trong thời kỳ Âu Lạc kỹ thuật quân sự có những tiến bộ vượt bậc. Cải tiến vũ khí quan trọng nhất của thời kỳ này là việc sáng chế ra loại nỏ bắn một lần trúng nhiều phát tên, thường gọi là nỏ liễu hay nỏ liên châu. Loại vũ khí mới lợi hại đó được thần thánh hóa thành “nỏ thần” (thần nỗ) trong truyền thuyết dân gian. Năm 1959, khảo cổ học đã phát hiện được ở Cầu Vực phía Nam thành Cổ Loa kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc.

Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân Âu Lạc vẫn dựa trên nền tảng của văn hóa Văn Lang. Tuy vậy, sang giai đoạn văn hóa Âu Lạc đã xuất hiện một yếu tố mới: “tinh thần đoàn kết giữa các thành phần tộc loại khác nhau trong phạm vi cả nước để bảo vệ và xây dựng đất nước”. Yếu tố đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài của lịch sử kết nối các cộng đồng tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại các đội quân xâm lược.

f) Thành Cổ Loa – Kinh đô nước Âu Lạc

Dấu tích khảo cổ học để lại của thời đại An Dương Vương khá đậm nét. Đó là các các di tích lò luyện đồng, các hiện vật bằng đồng, khuôn đúc mũi tên đồng... và đặc biệt là sự hiện tồn của tòa thành đất ở Cổ Loa.

Sự phân bố của 10 di tích văn hóa Đông Cổ Loa (di tích Cầu Vực, Đường Mây, Mả Tre, Xóm Nhồi, Xóm Hương, di tích đúc mũi tên đồng Đền Thượng, di tích Đông Sơn dưới thành Trung tại Xóm Thượng, di tích Đình Tràng lớp văn hóa Đông Sơn, di tích Bãi Mèn lớp văn hóa Đông Sơn, di tích Thành Cổ Loa giai đoạn đầu) kết hợp với sự hiện diện của ba vòng thành cho phép chúng ta phác dựng cấu trúc thành Cổ Loa mà những tư liệu hữu ích cho thấy có thiết kế chi tiết và quy định chức năng cho từng khu vực, từng vòng thành.

Thành Nội hình chữ nhật, chu vi 1.650m. Thành cao trung bình, so với mặt đất hiện nay khoảng 5m, mặt thành rộng 6 – 12m, chân rộng 20 – 30m. Thành Nội chỉ có một cửa thành mở về phía Nam trông thẳng vào Ngự triều di quy, tương truyền đó là nơi thiết triều của Vua Thục.

Thành Trung là một vòng thành khép kín, không có hình dáng cân xứng, bao bọc phía ngoài thành Nội. Thành Trung dài 6.500m. Một đặc điểm đáng lưu ý của cửa Nam đó là được bố trí thành cửa chung của thành Trung và Thành Ngoại do hai vòng thành nối liền nhau tạo thành, cửa Đông là cửa đường thủy (nhân dân gọi là cửa Cống Song) mở lối cho một nhánh sông Hoàng chảy vào sát thành Nội.

Thành Ngoại là một đường cong khép kín không có hình dáng rõ rệt, dài khoảng 7.780m. Thành Ngoại bị phá hủy nặng nề, nhiều đoạn gần như bị san bằng, nhất là phía Đông Bắc khi mở đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn cắt ngang hai đoạn thành ở đây. Những đoạn thành còn lại cao trung bình 3 – 4m, chỗ cao nhất gọi là gò Cột Cờ ở phía Nam cao khoảng 8m. Chân thành rộng khoảng 12 – 20m. Ngoài cửa Nam là cửa chung với thành Trung, Thành Ngoại còn có ba cửa: Cửa Bắc (nhân dân quen gọi là cửa Khâu), cửa Đông và cửa Tây – Nam, trong đó cửa Đông là cửa sông nối liền với Hoàng Giang.

Ngoài chức năng là nơi vua An Dương Vương định đô, kinh đô Cổ Loa còn có chức năng là quân thành. Với hệ thống ba vòng lũy và hào nước, thành Cổ Loa vừa là căn cứ bộ binh, vừa là căn cứ thủy binh mà Đầm Cả là một cảng thuyền lớn[12].

Niên đại của thành Cổ Loa cũng là niên đại của kinh đô Cổ Loa và của các di tích, di vật khảo cổ thời đại An Dương Vương. Những phát hiện khảo cổ học và kết quả phân tích niên đại tuyệt đối giúp chúng ta xác định niên đại của thành. Những mẫu than lấy trong lò đúc mũi tên đồng ở đền Thượng cho niên đại 159 ± 40 năm TCN và 150 ± 30 năm TCN. Gần đây, phân tích các mẫu than nằm cùng lớp gốm Đông Sơn trong di tích thành – lũy sớm nằm dưới lớp đất thành Trung tại xóm Thượng cho niên đại 176 ± 30 năm TCN.

g) Thời gian tồn tại của nhà nước Âu Lạc

Vấn đề xác định thời gian tồn tại nước Âu Lạc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dựng lại cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động, những thành tựu và đánh giá Nhà nước Âu Lạc trong lịch sử dân tộc. Vấn đề khoa học này nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thời gian tồn tại của nước Âu Lạc, nhưng điểm mấu chốt nhất đó là các nhà nghiên cứu chưa đồng nhất được thời gian nước Âu Lạc ra đời. Điểm qua các quan điểm của các sử gia và các nhà nghiên cứu, có ba ý kiến được đưa ra như sau:

- Ý kiến thứ nhất: Các sử gia Trung Quốc và một số sử gia phong kiến Việt Nam cho rằng: Nước Âu Lạc ra đời năm 257 TCN và bị diệt vong vào năm 208 TCN, tồn tại khoảng 50 năm[13].

- Ý kiến thứ hai: Nước Âu Lạc chỉ tồn tại khoảng 4 – 5 năm, trong khoảng thời gian giữa cái chết của Tần Thủy Hoàng (năm 210 TCN) và sự ra đời của nước Nam Việt của Triệu Đà (năm 207 TCN)[14].

- Ý kiến thứ ba: Nước Âu Lạc tồn tại trong khoảng 30 năm từ năm 208 TCN khi cuộc kháng chiến chống Tần kết thúc thắng lợi đến năm 179 khi Cao Hậu chết[15].

Theo chúng tôi thì nước Âu Lạc  của Thục Phán – An Dương Vương tồn tại gần 30 năm từ năm 208 TCN đến năm 179 TCN. Cơ sở của nhận định trên là dựa vào những di vật khai quật được ở đền Thượng trong các năm 2005, 2006, 2007 và niên đại xây dựng Đền Thượng[16].

Xác định niên đại tuyệt đối của Thành Cổ Loa có hai căn cứ: Thứ nhất là thông qua những hiện vật chỉ định niên đại như: Tiền Bán Lạng (220 TCN) trong trống đồng Cổ Loa I ở Mả Tre và lớp văn hóa Cổ Loa tại Bãi Mèn, ngói ống Cổ Loa có màu sắc, chất liệu, hoa văn trang trí giống ngói có niên đại Tần – Hán, một số đồ gốm mang phong cách Tần – Hán phát hiện trong lớp văn hóa Cổ Loa tại Đền Thượng. Thứ hai là niên đại AMS các mẫu khảo cổ lấy trong lớp văn hóa hay các di tích thuộc lớp văn hóa giai đoạn Cổ Loa tại Đền Thượng hoặc các lớp văn hóa thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn ở khu vực Cổ Loa.

Như vậy, nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, gần 30 năm (khoảng năm 208 – năm 179 TCN). Do đó, thời gian tồn tại của nước Âu Lạc không tách ra thành một thời kỳ lịch sử riêng mà được coi như một giai đoạn tiếp tục của nhà nước Văn Lang và nằm trong một thời đại chung: Thời đại dựng nước Hùng Vương và An Dương Vương.

II. KINH ĐÔ CỔ LOA TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC

1. Cổ Loa: Kinh đô của nhà nước Âu Lạc - Một công trình phòng thủ sớm nhất trong lịch sử Việt Nam

An Dương Vương đóng đô ở Loa Thành là một thời kỳ lịch sử đã được sử sách và truyền thống nhắc tới. Tòa thành Cổ Loa với các chứng tích phong phú chứng minh rõ ràng sự thật lịch sử của thời kỳ đó.

Các nghiên cứu so sánh chung cho thấy các tòa thành đất thời này ở nhiều nơi trên thế giới đều vừa là nơi đóng đô vừa là các công trình phòng thủ quân sự. Tính chất trung tâm quyền lực được thể hiện rõ khi mà trong thành đã tìm thấy trống đồng to đẹp - trống Cổ Loa I, xưởng đúc mũi tên đồng Đền Thượng ở trung tâm tòa thành đất kỳ vĩ đã cho thấy rõ vị thế kinh đô của thành Cổ Loa thời nước Âu Lạc.

Cùng với 3 vòng thành đất Cổ Loa còn hiện diện đến ngày nay, khảo cổ học đã phát hiện trong hố khai quật cắt thành Trung tại Xóm Thượng một đoạn tường đất nằm dưới lớp thành do An Dương Vương đắp. Cùng với các bộ phận khác, như: hào trước-sau (trong-ngoài), nền và tường đất của vọng gác (hay chòi canh) tạo thành một cấu trúc liên hoàn dạng làng phòng thủ[17]  hay pháo đài[18]. Ở bình diện xuất lộ di tích phòng thủ này đã phát hiện các di tích, di vật thuộc văn hoá Đông Sơn, như: gốm thô màu nâu sẫm, dao sắt, bếp lửa... Niên đại này phù hợp với mẫu than nằm cùng mảnh gốm thô Đông Sơn cho niên đại 179 ± 30BC.

Các dãy lũy đất phòng thủ hay bảo vệ bên ngoài của vòng thành Ngoại Cổ Loa đã phát hiện được ở nhiều nơi: Bãi Miễu (1978), Đình Tràng (2010) và dãy gò ở xã Dục Nội có kỹ thuật đắp giống các vòng thành Cổ Loa. Ở phía Nam thành Ngoại, cạnh Hoàng Giang, tại di chỉ Bãi Mèn, đã phát hiện những nền đất đắp, di tích hình lòng chảo...có thể có kết cấu dạng đồn trú bảo vệ Nam Môn. Những công trình này là những phòng tuyến tiền tiêu từ xa, khiến cho Cổ Loa trở thành công trình phòng thủ có quy mô to lớn, kiên cố và vững chắc nhất vào thời cổ đại lịch sử nước ta.

2. Cổ Loa hai lần là kinh đô

Cổ Loa là kinh đô đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đây là nơi An Dương Vương xây thành đắp lũy, dựng lập nhà nước Âu Lạc và cũng là nơi Ngô Quyền, sau khi đánh bại quân Tống tại chiến địa Bạch Đằng với ý đồ “nối lại quốc thống, chắp lại mạch dòng” đã tiếp tục chọn làm kinh đô và xưng vương. Vì thế từ lâu, cùng với kinh đô Văn Lang thời các Vua Hùng, Cổ Loa được xem là kinh đô có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nghiên cứu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử tồn tại và phát triển của hệ thống các kinh thành của Việt Nam trong quá khứ.

Cổ Loa là kinh đô cổ nhất ở khu vực Đông Nam Á, có truyền thống xây dựng triệt để để lợi dụng điều kiện tự nhiên, sẵn có để đắp thành, đào hào. Sông được dùng làm hào thiên nhiên cho Thành Ngoại, cung cấp nước cho cả hệ thống hào của tòa thành. Nhiều gò, đống, doi đất cao được đắp nối lại và đắp cao thêm làm thành một bộ phận hữu cơ của tòa thành. Thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm, là căn cứ vững chắc của bộ binh, thủy binh để bảo vệ vua, triều đình và kinh đô. Về văn hóa, Cổ Loa trở thành di sản văn hóa, bằng chứng về sức sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt cổ. Thành Cổ Loa phản ảnh tập trung sự phát triển nhiều mặt của nước Âu Lạc. Thành Cổ Loa còn biểu thị một bước phát triển mới của nhà nước Âu Lạc, của quyền lực xã hội và sự phân hóa xã hội.

3. Kinh đô Cổ Loa trong quá trình hình thành và phát triển của văn minh Đại Việt

Sự chuyển rời trung tâm đất nước từ Làng Cả về Cổ Loa là bước phát triển của lịch sử đất nước với tư thế đàng hoàng và phát triển – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phồn thịnh “đất lành chim đậu”. Sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền cũng chọn Cổ Loa là kinh đô. Đây là sự tiếp nối truyền thống, khí chất của người chiến thắng, của một dân tộc chiến thắng. Thế địa lợi nhân hòa của Cổ Loa cũng là cơ sở để Lý Thái Tổ rời đô, mở rộng và phát triển đất nước ở thế Thăng Long - rồng bay lên. Câu nói “đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau” dường như không phải vang lên từ chiếu rời đô của Lý Thái Tổ mà đã từ rất lâu, trên mảnh đất Cổ Loa – cạnh sông Hồng “tiếng hát bốn ngàn năm”.

Ngô Thì Sỹ đã nhận xét đúng: “Nước ta bị nội thuộc Trung Hoa từ Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chính là Triệu Đà”. Tuy vậy, trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, công cuộc dựng nước của các Vua Hùng và Vua Thục là những trang mở đầu rất hoàng tráng, chói lọi đặt những viên gạch đầu tiên xây nên truyền thống tự lực tự cường, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau.

Với địa thế thuận lợi cạnh sông Hồng, cư dân Cổ Loa có nền nông nghiệp trồng lúa nước phát triển cao, tài nghệ luyện kim giỏi giang đã được An Dương Vương chọn để định đô, xây thành lập ra nhà nước Âu Lạc trên cơ sở kế thừa những thành tựu của nhà nước Văn Lang. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của nhà nước, các hoạt động kinh tế đều giống với nước Văn Lang thời các vua Hùng. Đó là những chứng cứ chứng minh “chồi Âu Lạc mọc từ gốc Văn Lang”. Sự thay đổi, chuyển giao quyền lực giữa Hùng Vương và Thục Phán – An Dương Vương là hiện tượng tất yếu của sự phát triển lịch sử, của dân tộc trọng hòa khí và sống đôn hậu, chất phác.

Sự thành lập nhà nước Âu Lạc có công lao rất lớn của Thục Phán – An Dương Vương – thủ lĩnh quân sự đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Tần. Ông đã bảo vệ, phát triển cộng đồng Lạc – Việt lên một tầm cao mới. Tuy nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương chỉ tồn tại trong khoảng 30 năm nhưng những việc đã làm được của An Dương Vương và cộng đồng là minh chứng cho sức sống và khát vọng vươn lên của ông cha ta trong lịch sử. Kháng chiến chống Tần thắng lợi, ông quyết định rời đô xuống vùng đồng bằng thuận lợi, tổ chức đúc mũi tên đồng, xây thành Cổ Loa,... Những việc làm đó đã nói lên quyết tâm xây dựng khối cộng đồng bền vững, đủ sức chống chọi với những thế lực phương Bắc. Tuy nhiên, chính vị thủ lĩnh này sau gần 30 năm (năm 208 TCN – 179 TCN) đã để cơ đồ của tổ tiên trong đó có bàn tay của mình gây dựng rơi vào tay ngoại bang. Nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, từ một quốc gia độc lập đã mất quyền tự chủ vào tay chính quyền phương Bắc. Sự thất bại của An Dương Vương chỉ là sự thất bại tạm thời của một dân tộc đang vươn mình đứng dậy để mạnh mẽ và trường tồn. Khát vọng ấy đã được Lý Phật Tử, Hai Bà Trưng và các thế hệ người Việt tiếp nối và thực hiện thành công.

Tuy An Dương Vương để mất nước nhưng những gì mà ông đã làm được lịch sử ghi nhận. Cùng với các vua Hùng, An Dương Vương đã góp phần xây dựng và hoàn thành công cuộc dựng nước của dân tộc Việt. Thời đại dựng nước đời Hùng Vương và An Dương Vương đã để lại hai thành tựu cơ bản:

- Một nền văn minh rạng rỡ.

- Một hình thái nhà nước sơ khai.

Với hai thành tựu đó, thời đại dựng nước Hùng Vương – An Dương Vương không những chứng tỏ nền văn hiến lâu đời, lịch sử dựng nước sớm của dân tộc Việt Nam mà còn tạo lập một nền tảng bền vững cho tòan bộ sự sinh tồn và phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam sau đó.

 

CỔ LOA CAPITAL IN THE FORMATION HISTORY OF THE GREAT-VIET (ĐẠI VIỆT) CIVILIZATION

LAI VAN TOI

Cổ Loa là vùng đất cổ tiền ẩn nhiều di tích lịch sử từ thời tiền-sơ sử đến lịch sử, nơi hội tụ và lan tỏa của văn minh sông Hồng, mảnh đất sáng giá để An Dương Vương chọn để định đô, xây thành và phát triển đất nước.

Sau khi đánh bại quận Tần vào năm 208 TCN, An Dương Vương thay thế Hùng Vương, thành lập nước Âu Lạc và chuyển trung tâm đất nước về Cổ Loa. Với tầm nhìn mới của nhà chỉ huy tài thao lược, ông đã huy động quân dân Âu Lạc xây dựng tòa thành quy mô lớn kiên cố, vững chắc để bảo vệ vua và triều đình nhà nước Âu Lạc, vừa là công trình phòng thủ sớm nhất trong lịch sử nước ta.

Từ thành Cổ Loa, truyền thống quy hoạch, xây dựng và cấu trúc kinh thành kiểu “Tam trùng thành quách”, khi xây dựng lợi dụng tối đa điều kiện tự nhiên để tiết kiệm công sức vừa tạo thế liên hoàn trong ngoài… đã được Đinh Bộ Lĩnh xây dựng kinh đô Hoa Lư (năm 986) và Lý Công Uẩn xây dựng kinh thành Thăng Long (1010). Tồn tại đến ngày nay, cả ba kinh đô Âu Lạc, Hoa Lư và Thăng Long đang được bảo tồn và phát huy giá trị trong công cuộc xây dựng đất nước văn minh, hiện đại. 

 

TÀI LIỆU DẪN

  1. Đào Duy Anh 1957: Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc, Hà Nội 1957;
  2. Lã Văn Lô 1963: Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” của đồng bào Tày. Nghiên cứu Lịch sử, số 50-51/1963;
  3. Lại Văn Tới 1997: Cổ Loa-Âu Lạc. Khảo cổ học, số 3, tr.14 – 30;
  4. Lại Văn Tới 2010: Kinh đô Cổ Loa trong lịch sử. Khảo cổ học, số 3/2010, tr. 33 – 45;
  5. Lại Văn Tới 2014: Đền Thượng - Cổ Loa và những bí ẩn trong lòng đất. Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội;
  6. Keeley 2009: Một vài nhận xét về thành lũy Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 217 – 220;
  7. Lại Văn Tới 2009: Nhận thức mới về thành Cổ Loa qua kết quả khai quật lũy - hào thành Trung, năm 2007 - 2008. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 214 - 217;
  8. Nam C. Kim, Lại Văn Tới, Trịnh Hoàng Hiệp 2010: Thành lũy, chiến tranh và chính trị tập trung qua các cuộc khai quật lũy - hào thành trung (Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội). Khảo cổ học, số 3/2010, tr. 46-50;
  9. Ngô Tất Tố 1939: Nước Nam không có ông vua An Dương Vương nhà Thục. Tao đàn, số 3 ngày 1/4/1939;
  10. Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân 2007: Địa chí Cổ loa. Nxb Hà Nội 2007;
  11. Nguyễn Văn Siêu 1959: Phương Đình dư địa chí. Địa lý loại tạp khảo, Sài Gòn 1959, tr. 109;
  12. Trần Quốc Vương 1969: Cổ Loa: Những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới. Khảo cổ học, số 3-4/1969, tr. 100-127;
  13. Viện Khảo Cổ học – Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long-Hà Nội 2014: Báo cáo sơ bộ khai quật thành Nội và ụ hỏa hồi ở thôn Hương và thôn Lan Trì (Cổ Loa, Hà Nội) năm 2014. Tư liệu Viện Khảo cổ học;
  14. Trần Văn Giáp 1957: Một vài ý kiến về An Dương Ngọc Giản và vấn đề Thục An Dương Vương. Văn Sử Địa, số 28, tháng 5/1957;
  15. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược;
  16. Tư Mã Thiên 1971: Sử ký (bản dịch), tr. 373.

 


[1] Tư Mã Thiên 1971: Sử ký (bản dịch), tr. 373.

[2] Lại Văn Tới 1997: Cổ Loa - Âu Lạc. Khảo cổ học, số 3, tr.14 – 30.

[3] Viện Khảo Cổ học – Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long-Hà Nội, 2014: Báo cáo sơ bộ khai quật thành Nội và ụ hỏa hồi ở thôn Hương và thôn Lan Trì (Cổ Loa, Hà Nội) năm 2014. Tư liệu Viện Khảo cổ hoc.

[4] Keeley 2009: Một vài nhận xét về thành lũy Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 217 - 220.

[5] Nam C. Kim, Lại Văn Tới, Trịnh Hoàng Hiệp, 2010. Thành lũy, chiến tranh và chính trị tập trung qua các cuộc khai quật lũy - hào thành trung (Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội). Khảo cổ học, số 3/2010, tr. 46-50.

[6] Keeley 2009. Một vài nhận xét về thành lũy Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 217 - 220.

[7] Nam C. Kim, Lại Văn Tới, Trịnh Hoàng Hiệp, 2010. Thành lũy, chiến tranh và chính trị tập trung qua các cuộc khai quật lũy - hào thành trung (Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội). Khảo cổ học, số 3/2010, tr. 46-50.

[8] Nguyễn Văn Siêu: Phương Đình dư địa chí. Địa lý loại tạp khảo, Sài Gòn 1959, tr. 109.

[9] Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược

Ngô Tất Tố: Nước Nam không có ông vua An Dương Vương nhà Thục. Tao đàn, số 3 ngày 1/4/1939

[10] Lã Văn Lô 1963: Quanh vấn đề An Dương Vương Thục  Phán hay là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” của đồng bào Tày. Nghiên cứu Lịch sử, số 50-51.

[11] Lại Văn Tới 2010: Kinh đô Cổ Loa trong lịch sử. Khảo cổ học, số 3, tr. 33-45

   Lại Văn Tới 2006: Đồ đồng văn hóa Đông Sơn ở Cổ Loa (Hà Nội). Khảo cổ học, số 5, tr. 30 – 37.

[12] Trần Quốc Vương 1969: Cổ Loa: Những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới. Khảo cổ học, số 3-4, tr. 100-127.

[13]  Đào Duy Anh 1957: Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc, Hà Nội 1957

[14]Trần Văn Giáp: Một vài ý kiến về An Dương Ngọc Giản và vấn đề Thục An Dương Vương. Văn Sử Địa, số 28, tháng 5/1957.

[15] Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân 2007: Địa chí Cổ Loa. Nxb Hà Nội.

[16] Lại Văn Tới 2014: Đền Thượng - Cổ Loa và những bí ẩn trong lòng đất. Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

[17] Lại Văn Tới 2007: Nhận thức mới về thành Cổ Loa qua kết quả khai quật lũy - hào thành Trung, năm 2007 - 2008. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội 2009, tr. 214 - 217

[18] Keeley 2009: Một vài nhận xét về thành lũy Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008. Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 217 - 220.

 

Lại Văn Tới

(Thông báo Khoa học năm 2014)