Gốm Thăng Long thời Lê sơ và vai trò của nó trong đời sống Hoàng cung Thăng Long

11/05/2016

Những đồ sứ được dùng trong các triều đại phong kiến của Việt Nam chưa được nêu tỏ đúng mức với dư luận trong nước và thế giới. Các nhà sưu tập ở Việt Nam và trên thế giới dường như chưa có ý niệm về sự có mặt của các đồ gốm sứ chính cống được dùng trong các triều đại Việt Nam. Người ta mới chỉ biết về những đồ sứ của các vua nhà Nguyễn dùng trong Hoàng cung Huế và vì thế có ý kiến cho rằng, đối với chính người Việt Nam, không có sưu tập đồ mỹ nghệ nào quý giá, có ý nghĩa và lý thú bằng đồ sứ của triều đình nhà Nguyễn...

 


LỜI MỞ

Những đồ sứ được dùng trong các triều đại phong kiến của Việt Nam chưa được nêu tỏ đúng mức với dư luận trong nước và thế giới. Các nhà sưu tập ở Việt Nam và trên thế giới dường như chưa có ý niệm về sự có mặt của các đồ gốm sứ chính cống được dùng trong các triều đại Việt Nam. Người ta mới chỉ biết về những đồ sứ của các vua nhà Nguyễn dùng trong Hoàng cung Huế và vì thế có ý kiến cho rằng, đối với chính người Việt Nam, không có sưu tập đồ mỹ nghệ nào quý giá, có ý nghĩa và lý thú bằng đồ sứ của triều đình nhà Nguyễn.

Tuy nhiên, những đồ sứ ngự dụng trong Hoàng cung Huế chỉ là những hình ảnh rất muộn màng và chưa thể coi đó là đại diện tiêu biểu cho những tài sản quý mà các vua Đại Việt để lại cho hậu thế. Bởi lẽ thứ nhất, triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam; thứ hai, phần lớn những đồ sứ ngự dụng trong triều đại này được các vua Nguyễn đặt làm tại các lò vùng Cảnh Đức Trấn của Trung Quốc.

Bối cảnh trên cho thấy, những đồ sứ hiếm quý dành riêng cho các vua chúa Đại Việt xưa, gọi là đồ ngự dụng, dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại Lý, Trần, Lê như thế nào rõ ràng là thứ vô hình, không ai biết.

Và dường như, trước thời điểm diễn ra cuộc khai quật khảo cổ học nổi tiếng về khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu - nằm giữa lòng Thủ đô Hà Nội, Việt Nam, vào những năm 2002-2004, không ai biết hay nói đến đồ gốm ngự dụng dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại.

     

Hình 1: Bình men trắng, vai có 4 quai. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. 

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

   
     

Vì thế, những trang sử mới về đồ gốm Việt Nam dùng trong Hoàng cung Thăng Long đã được mở ra dựa trên những khám phá quan trọng của khảo cổ học tại khu di tích. Cũng từ đây, lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu, khái niệm về đồ gốm cao cấp của Việt Nam chuyên chế cho nhà vua sử dụng trong Hoàng cung hay những đồ gốm dành cho vương hậu hoặc dành cho Hoàng tộc, triều đình được nhận biết khá rõ ràng. Đặc biệt, ở đây đã tìm được rất nhiều bằng chứng khẳng định sự tồn tại của các lò quan ở Thăng Long. Đây là những lò gốm do triều đình sáng lập để chuyên chế tác đồ gốm phục vụ cho Hoàng cung trong suốt thời gian ngự trị của các vương triều, từ thời Lý, Trần đến thời Lê sơ, với lịch sử dài hơn 500 năm. Trong đó, khám phá quan trọng nhất là đồ gốm thời Lý và đồ gốm thời Lê sơ.

Dựa vào những bằng chứng mới của khảo cổ học và những ký sự đương thời, bài viết nghiên cứu này sẽ lý giải và đưa ra những hình ảnh chân xác về các loại đồ gốm quí thời Lê sơ được sản xuất tại lò Thăng Long và vai trò của nó trong đời sống Hoàng cung Thăng Long.

1. NHỮNG BẰNG CHỨNG TỪ LÒNG ĐẤT

Những sưu tập đồ gốm lớn bao gồm đồ gốm Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Tây Á đã được tìm thấy dưới lòng đất khu di tích, trong đó, chiếm số lượng lớn và phong phú nhất là đồ gốm Việt Nam. Đáng lưu ý là bên cạnh các loại gốm dùng trong sinh hoạt hay trang trí nội thất các cung điện trong Hoàng cung, khu di tích còn đào được rất nhiều đồ gốm phế thải. Đó là các loại đồ gốm bị sống men (gốm chưa qua lò nung hoặc bị hỏng khi nung), các chồng gốm dính nhau (các loại bát, đĩa, hoặc bình, lọ, chậu bị chảy dính vào nhau do nung ở nhiệt độ quá cao) hay các loại dụng cụ sản xuất gốm (bao nung, con kê, dụng cụ bàn xoay)… 

Kết quả phân tích địa tầng và qua nghiên cứu so sánh cho thấy, các đồ gốm phế thải được mang vào nội thành qua các đợt tái thiết dựng 

             
         
       

Hình 2-3: Những đồ gốm quý dành cho nhà vua và vương hậu tìm thấy cùng với những đồ gốm thời Lê sơ tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long.  (Ảnh: Bùi Minh Trí)

         
       

Hình 4-5: Đồ gốm phế thải men trắng vẽ lam, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

 (Ảnh: Bùi Minh Trí)

             

xây cung điện, lầu gác trong Hoàng cung đương thời. Trong mỗi lần tái thiết, người xưa đã chuyên chở rất nhiều loại đất, vật liệu xây dựng, đặc

biệt là rất nhiều phế thải của các lò gốm ở bên ngoài kinh thành để tôn đắp nền móng các công trình kiến trúc. Đây là những minh chứng xác thực, lần đầu tiên cho biết về sự tồn tại của các lò gốm ở kinh thành Thăng Long xưa. Đồ gốm phế thải tìm được ở đây có rất nhiều loại và có niên đại từ thời Lý, Trần đến thời Lê sơ. Trong đó, gốm Lê sơ có số lượng rất lớn và cho thấy, đây là thời kỳ các lò gốm Thăng Long sản xuất rất nhiều loại sản phẩm chất lượng cao, với nhiều dòng gốm khác nhau như men trắng, men ngọc, men nâu, men lam, hoa lam và vẽ nhiều màu hoặc kết hợp phủ vàng trên men. Trong các dòng gốm ấy lại có rất nhiều loại với những chất lượng và kiểu dáng, hoa văn trang trí khác nhau, phản ánh mục đích sử dụng khác nhau cũng như địa vị xã hội khác nhau của những người sử dụng chúng (xem Hình 2-5).

2. DÒNG GỐM CUNG ĐÌNH

Sưu tập đồ gốm Việt Nam thời Lê sơ đào được trong lòng di tích bao gồm những sản phẩm được sản xuất tại các lò gốm Thăng Long và cả những sản phẩm gốm được mang đến từ các lò ở các tỉnh nằm ở ngoại vi Thăng Long (như Chu Đậu, Cậy, Ngói ở Hải Dương). Sản phẩm gốm do các lò Thăng Long sản xuất phần lớn đều có chất lượng cao và kỹ thuật sản xuất vượt trội so với các loại gốm của các lò bên ngoài Thăng Long. Và trong số đó, những đồ gốm cao cấp, được sản xuất dành riêng cho nhà vua, vương hậu và hoàng tộc hay dùng để trang hoàng nội thất các cung điện được giới chuyên môn gọi là dòng gốm cung đình.

Phát hiện quan trọng, sáng giá về dòng gốm cung đình, phản ánh sinh động về đời sống cao sang của các bậc đế vương cùng vương hậu, quí phi là những đồ gốm đẹp, chất lượng cao, được chế tác tinh xảo, có hoa văn trang trí mang tính vương quyền như hình rồng, chim phượng hay thiên nga hoặc các đồ án hoa lá mang tính cao quí (Bùi Minh Trí, 2006: 66-97).

2.1. Đồ gốm dành cho nhà vua

Sưu tập đồ gốm quí dành cho nhà vua thời Lê sơ lần đầu tiên được nhận biết rõ ràng và chính xác qua các loại bát, đĩa men trắng mỏng, được chế tác rất hoàn hảo và tinh mỹ khác thường, trong lòng in nổi hình 2 con rồng chân có 5 móng sắc nhọn, giữa lòng in chữ Quan. Tiêu chí để nhận biết đẳng cấp của sản phẩm gốm này chính là hình rồng, biểu trưng của vương quyền/quyền lực của nhà vua và chữ Quan cho biết đây là đồ quan dụng hay ngự dụng dành riêng cho nhà vua (Hình 6-7) (Bùi Minh Trí 2006: 74-75).

Trước khi diễn ra cuộc khai quật khu di tích này, năm 2001, trong công trình nghiên cứu Gốm hoa lam Việt Nam, tôi đã nói đến những chiếc bát hoa lam hiếm quí vẽ hình rồng chân có 5 móng 

     
     

Hình 8 (trên): Loại đĩa nhỏ men trắng vẽ lam hình rồng chân có 5 móng. Đồ ngự dụng. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15.

     
      Hình 9: Bát lớn men trắng vẽ lam hình rồng chân có 5 móng. Đồ ngự dụng. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Bảo tàng Lịch sử quốc gia. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
   
     

Hình 10: Bình rượu men trắng, quai, vòi và vai tạo hình rồng chân có 5 móng. Đồ ngự dụng. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

     
 
      Hình 11-12: Đĩa và mảnh vỡ của loại bình rượu quý vẽ nhiều màu hình rồng chân có 5 móng và phủ vàng trên men. Đồ ngự dụng. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. (Ảnh: Bùi Minh Trí)
     
      Hình 13-14: Bát vẽ lam hình chim phượng và các loại bát, đĩa, chén lòng viết chữ Hán "Trường Lạc". Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15-16. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

sắc nhọn trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) là đồ ngự dụng của nhà vua thời Lê sơ và suy đoán đây có thể là sản phẩm của lò quan Thăng Long (Bùi Minh Trí, 2001: 27, 388). Một số nhà nghiên cứu khi đó còn tỏ ra hoài nghi vì họ chưa bao giờ nghĩ rằng những chiếc bát này là đồ dành riêng cho nhà vua. Nhưng cuộc khai quật tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long diễn ra sau đó đã xua tan đi sự hoài nghi này và khẳng định rõ hơn suy đoán rất đúng của tôi về sản phẩm gốm lò quan Thăng Long. Bằng chứng thuyết phục là tại khu di tích, chúng tôi đã đào được khá nhiều loại bát, đĩa hoa lam vẽ hình rồng chân có 5 móng, có phong cách tương tự như những chiếc bát trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia nói đến ở đây cùng với những loại bát, đĩa men trắng mỏng in hình rồng và chữ Quan giới thiệu ở trên (Hình 8-9).

Vẻ đẹp sang quí của những đồ gốm ngự dụng được nhận biết rõ ràng qua hình dáng, màu men, đồ án hoa văn, kỹ thuật tạo tác, đặc biệt kỹ thuật tạo chân đế rất hoàn hảo. Dựa vào đặc điểm kỹ thuật chế tạo và tiêu chí hoa văn, hàng loại các loại bình, lọ và nhiều sản phẩm gốm men trắng, gốm hoa lam có chất lượng cao đã được nghiên cứu nhằm phân định khoa học về đặc trưng của các loại đồ gốm quí dành cho nhà vua dùng trong Hoàng cung Thăng Long. Ví dụ sáng giá được minh họa trong bài viết này là bình rượu men trắng trang trí rồng và tước uống rượu men trắng khắc chìm hoa cúc dây, giữa lòng vẽ lam hình chim chích đậu trên cành hoa mai rất tinh tế (Hình 10).

Cùng với khám phá về đồ gốm men trắng, hoa lam nói trên, rất nhiều đồ gốm cao cấp vẽ nhiều màu kết hợp phủ vàng, trang trí hoa văn hình rồng chân có 5 móng cũng được tìm thấy. Trong đó, đặc sắc nhất là những loại đĩa nhỏ và các loại bình rượu có hình dáng đẹp đẽ vẽ hoa văn hình rồng với đường nét tinh mỹ, bố cục chặt chẽ, phản ánh sinh lực và quyền uy của các bậc đế vương. Kỹ thuật vẽ hình rồng trên những đồ gốm này là điểm rất thú vị, cần được lưu ý. Người ta vẽ hình dáng cơ bản của con rồng và văn mây bằng màu xanh cobalt dưới men trước khi đem nung ở nhiệt độ cao. Sau đó, các bộ phận của con rồng được vẽ rất chi tiết, tỉ mỉ bằng màu đỏ, màu xanh lá cây trên men và dát vàng thật lên trên các họa tiết đã vẽ. Do màu vẽ trên men được nung hấp ở nhiệt độ thấp (nhẹ lửa) và vàng dát rất mỏng nên sau một thời gian sử dụng thường bị bay mất màu. Dấu vết họa tiết vẽ màu và vàng phủ còn lại rất mờ nhạt, chỉ có thể nhận biết khá rõ ràng khi nhìn ở ánh sáng xiên (Hình 11-12).

Có thể nói, sự kết hợp tài ba giữa các loại men và vàng thật đã tạo nên những sắc thái độc đáo, mới lạ và sang quí cho đồ gốm Thăng Long. Và, dường như phong cách nghệ thuật này chỉ xuất hiện, phát triển mạnh mẽ và diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, từ khoảng giữa đến cuối thế kỷ 15 khi mà gốm Việt Nam tham gia tích cực nhất vào thị trường mậu dịch gốm sứ châu Á trên biển. Bằng chứng của khảo cổ học chứng thực rõ ràng rằng, những đồ gốm hiếm quí này chủ yếu được sản xuất để phục vụ cho Hoàng cung Thăng Long (lúc đó gọi là Đông Kinh - Tonkin) và một phần được xuất khẩu sang thị trường các nước Hồi giáo giàu có ở Đông Nam Á và Tây Á. Trong bối cảnh này, gốm vẽ màu thường được xuất khẩu cùng lô hàng với các loại gốm hoa lam và chúng được sử cũ ghi lại là những đồ vật quí, được sử dụng trong các nghi lễ quan trọng của các cộng đồng giàu có ở các quốc đảo Đông Nam Á (Kerry Nguyễn Long, 2001: 73-80).

Nghiên cứu những sản phẩm gốm ngự dụng dùng trong Hoàng cung Thăng Long cho thấy, nhu cầu thẩm mỹ và những qui định khá nghiêm ngặt trong nghệ thuật trang trí không những đòi hỏi trình độ tay nghề rất cao mà còn thể hiện đẳng cấp vượt trội của những đồ gốm quí dành riêng cho các bậc đế vương. Nghiên cứu tỉ mỷ về kỹ thuật, hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về chất liệu và hoa văn trang trí, trên cơ sở xây dựng tiêu chí chuẩn về những đặc điểm riêng biệt của các loại sản phẩm gốm Thăng Long, tôi nhận thấy, các loại gốm hoa lam cao cấp và gốm vẽ màu kết hợp phủ vàng dùng trong Hoàng cung Thăng Long thời Lê sơ đều là sản phẩm đích thực của lò gốm Thăng Long.

Từ kết quả nghiên cứu nêu trên và qua nghiên cứu so sánh với đồ gốm Chu Đậu (Hải Dương), tôi đã có đủ cơ sở thuyết phục để chứng minh rằng, đồ gốm vẽ nhiều màu của Việt Nam, bao gồm đồ gốm phủ vàng lên hoa văn trang trí, được sản xuất chủ yếu trong khoảng thời Lê sơ, chính xác là trong thế kỷ 15 và nó phát triển nở rộ trong khoảng nửa cuối của thế kỷ này, không kéo dài sang đầu thế kỷ 16 như một số nhận định trước đó và hiện nay (Bùi Minh Trí 2008: 55-56).

2.2. Đồ gốm dành cho vương hậu

           

   
   
   

Hình 15-16a,b: Bát nhỏ men trắng, lòng in bông hoa mai và văn sóng nước, gốm Thăng Long và bia đá ghi niên đại năm Quang Thuận thứ 11 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Tìm thấy tại khu mộ người Tày ở bản Lòa, xã Thúy Loa, Tuyên Quang năm 2000.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

     

Những đồ gốm cao cấp trang trí hình chim phượng hay thiên nga hoặc hoa lá, văn sóng nước mà phẩm cấp của nó vượt trội hơn nhiều so với những đồ gốm thông thường dành cho cung phi cho thấy đây là những đồ dùng đặc biệt dành riêng cho các vương hậu. Bằng chứng sáng giá được nêu trong bối cảnh này là những loại bát, đĩa vẽ lam hay kết hợp vẽ nhiều màu và dát vàng thật trên men đồ án hình chim phượng với phong cách thể hiện giàu tính nghệ thuật và mang dấu ấn rất riêng biệt của những đồ dùng dành riêng cho vương hậu (Hình 13).

Những đồ gốm đặc biệt dành cho vương hậu trong Hoàng cung Thăng Long thời Lê sơ còn được minh chứng rõ qua phát hiện quan trọng về sưu tập đồ gốm ghi chữ Hán dưới đáy, trong lòng hoặc trên thân sản phẩm: “Trường Lạc cung”, “Trường Lạc” hay “Trường Lạc khố”. Những dòng chữ này cho biết chắc chắn rằng, đây là những đồ gốm dùng trong cung Trường Lạc. Từ chứng cứ này, các nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét thú vị rằng, ở Thăng Long có những lò chuyên sản xuất gốm cho cung Trường Lạc hay đây là những sản phẩm được các lò gốm Thăng Long chế tác riêng cho cung Trường Lạc, phục vụ nhu cầu sinh hoạt riêng của cung Trường Lạc. Những chữ viết trên đồ gốm được ghi dấu như là tài sản riêng của cung Trường Lạc. Đây là tư liệu rất hiếm quí, lần đầu tiên được phát hiện và chỉ tìm được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Hình 14). Theo các tài liệu lịch sử, Trường Lạc là một cung điện lớn, quan trọng của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng (1441-1505) vợ vua Lê Thánh Tông, mẹ vua Lê Hiển Tông. Bà được tuyển vào cung năm 1460, đến năm 1497, bà được phong làm Trường Lạc Thánh từ hoàng thái hậu sống tại cung Trường Lạc và mất tại đây vào năm 1505 (Đại Việt sử ký toàn thư, 1973). Dựa vào tư liệu này, niên đại của những đồ gốm nói đến ở đây được xác định khá chính xác trong khoảng từ năm 1460 ~ 1505 (Bùi Minh Trí, 2006: 74-76).

Đáng lưu ý, những đồ gốm của cung Trường Lạc chủ yếu là các loại bát, đĩa, chén men trắng có nhiều chất lượng khác nhau. Trong đó, loại gốm cao cấp thường được trang trí in nổi văn sóng nước hay hoa cúc hoặc hoa mẫu đơn dây. Tuy nhiên, những loại gốm cao cấp tương tự được tìm thấy khá nhiều trong khu di tích, nhưng không phải tất cả các sản phẩm đều được ghi chữ Hán như trường hợp của cung Trường Lạc nói trên.

Tại các di tích bên ngoài Thăng Long, các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy những đồ gốm men trắng in nổi văn sóng nước hay hoa cúc hoặc hoa mẫu đơn dây giống như gốm Thăng Long. Đáng lưu ý là tại khu di tích mộ cổ của người Tày ở Bản Lòa, xã Thúy Loa (tỉnh Tuyên Quang), cuộc điều tra của chúng tôi năm 2000 đã tìm thấy những loại bát nhỏ men trắng in nổi văn sóng nước trong ngôi mộ có bia đá khắc ghi niên đại tuyệt đối năm Quang Thuận thứ 11, đời vua Lê Thánh Tông (1469). Nghiên cứu so sánh có thể nhận thấy những đồ gốm này đều là sản phẩm của gốm Thăng Long và niên đại của nó nằm trong khoảng khung niên đại đồ gốm của cung Trường Lạc (Hình 15-16). Trong một số công trình đã công bố, do chưa có điều kiện tiếp xúc tư liệu gốm Thăng Long, nên một số nhà nghiên cứu đã từng xếp những đồ gốm này vào hệ thống gốm men trắng thời Trần thế kỷ 13-14 (John Stevenson and John Guy 1997: 231).

Điều rất thú vị nữa là, năm 2013, trong chuyến công tác tại Nhật Bản, chúng tôi đã được trực tiếp nghiên cứu những đồ gốm Việt Nam khai quật được tại di tích vương phủ Shuri - đô thành nổi tiếng trên quần đảo Okinawa xinh đẹp. Trong số những đồ gốm đó, chúng tôi đã nhận ra có một số đồ gốm men trắng là sản phẩm của lò quan Thăng Long thời Lê sơ (thế kỷ 15), bao gồm những loại bát, đĩa men trắng in nổi văn sóng nước như đồ gốm của cung Trường Lạc. Đây được xem là manh mối khá quan trọng cho ta biết về sự giao lưu giữa Kinh đô Thăng Long với Vương quốc Ryukyus (Lưu Cầu) trong lịch sử.[1]

Có thể nói, những khám phá quan trọng của khảo cổ học tại khu di tích đã cung cấp nhiều tư liệu quí giá, cho chúng ta thấy chân thực, rõ ràng hơn về các loại đồ gốm dành cho nhà vua và vương hậu. Đây là những đồ dùng, vật dụng không thể thiếu, có vai trò rất quan trọng trong đời sống Hoàng cung, từ cuộc sống sinh hoạt thường nhật đến các yến tiệc của nhà vua và triều đình trong các dịp đại lễ, sinh nhật vua, vương hậu, lễ đăng quang của nhà vua hay lễ tấn phong Hoàng Thái hậu… Ngoài ra, nhiều đồ gốm quí còn được dùng làm đồ tự khí trong các tôn miếu hay được dùng làm đồ vật trang hoàng nội thất của các cung điện nhằm điểm tô vẻ đẹp quyền quí, cao sang của chốn cung đình.

2.3. Đồ gốm dùng trong cung đình

Bên cạnh đồ gốm cao cấp dành cho đế vương và vương hậu, khu di tích còn tìm thấy nhiều loại đồ gốm có phẩm cấp thấp hơn dành cho Hoàng tộc, quan lại, thị vệ, người hầu trong cung. Trong số những loại gốm này có nhiều loại trông rất giống với những đồ gốm sản xuất tại các lò gốm xứ Đông như Chu Đậu (huyện Nam Sách), Ngói (huyện Bình Giang) tỉnh Hải Dương. Nhưng khi nghiên cứu, phân loại, trong số đồ gốm này, có nhiều loại được xác định chắc chắn là gốm Hải Dương, nhưng cũng có nhiều loại là gốm Thăng Long. Tuy nhiên, sự phân định về gốm Hải Dương và gốm Thăng Long là vấn đề không đơn giản. Bởi lẽ về chất liệu, hình dáng, màu men và hoa văn trang trí của những loại gốm này cơ bản là có phong cách giống nhau. Điều này làm cho việc nghiên cứu trở lên rất khó khăn. Nếu tại khu di tích không tìm thấy nhiều đồ gốm phế thải, trong đó có những loại gốm có phong cách giống như đồ gốm Chu Đậu hay Ngói thì thật khó có thể đưa ra những nhận xét thú vị như nêu ra ở đây (xem Hình 3, 17-18). Lý giải sự tương đồng về phong cách và chất lượng của gốm Thăng Long so với gốm Chu Đậu, Ngói là vấn đề rất lý thú. Nghiên cứu so sánh để lý giải sự tương đồng về phong cách này có thể có hai khả năng diễn ra: (1) Gốm Thăng Long có thể sản xuất theo mẫu của gốm Chu Đậu và Ngói hoặc ngược lại; (2) Triều đình Thăng Long đã chiêu tập những thợ giỏi từ các làng nghề này lên kinh thành để sản xuất gốm phục vụ Hoàng cung. Trong sử cũ cũng đã ghi chép về việc chiêu tập thợ giỏi khắp nơi vào làm việc trong Cục Bách tác trong kinh thành Thăng Long. Rất có thể sự giống nhau về phong cách giữa gốm Thăng Long và gốm Chu Đậu hay Ngói nằm trong bối cảnh thứ hai. Những thợ gốm vùng xứ Đông đã lên kinh thành. Tuy làm việc trong các xưởng gốm của triều đình, ngoài việc sản xuất những loại gốm cao cấp phục vụ nhà vua và hoàng tộc theo hình mẫu và yêu cầu của triều đình, nhưng họ vẫn duy trì phong cách truyền thống trong việc sản xuất gốm. Họ vẫn vẽ những đồ án hoa văn giống như họ đã từng vẽ tại làng quê của họ, từ hoa lá, cỏ cây đến những phong cảnh yên bình của miền quê xứ Đông với bến đò, mái đình, làng mạc cùng những chú chim chích hay những cánh cò và ruộng đồng.

Mặc dù rất bình dị, rất đậm đà mang dấu ấn của gốm xứ Đông, nhưng do yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng nên những đồ gốm sản xuất ở Thăng Long được làm kỹ hơn, có chất lượng tốt hơn. Kết quả nghiên cứu so sánh trong những năm qua cho thấy, sự khác biệt giữa gốm Thăng Long và gốm Chu Đậu, Ngói là khá rõ ràng. Sự khác biệt đó chỉ có thể nhận ra khi tiến hành nghiên cứu so sánh thật tỉ mỉ, kỹ lưỡng về kỹ thuật tạo chân đế. Để ghi nhận sự ảnh hưởng giữa gốm Thăng Long với gốm xứ Đông, tôi tạm dùng khái niệm gốm Thăng Long mang phong cách gốm Chu Đậu hay mang phong cách gốm Ngói (Chu Đậu/Ngói Style) với mong muốn phản ánh sự tương đồng, sự ảnh hưởng văn hoá giữa các sản phẩm gốm sản xuất tại Thăng Long phục vụ cho cung đình và những sản phẩm gốm được sản xuất ở vùng ngoại vi Thăng Long phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

 
Hình 17-18: Các loại đĩa nhỏ vẽ chim chích đậu cành mai và loại bát vẽ hoa cúc dây. Gốm Thăng Long mang phong cách gốm Chu Đậu và Ngói (Hải Dương), thời Lê sơ, thế kỷ 15. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

3. ĐỒ GỐM XUẤT KHẨU

Cũng từ lâu rồi, tất cả các lô hàng gốm Việt Nam thời Lê sơ xuất khẩu sang thị trường quốc tế qua con đường gốm sứ trên biển được tìm thấy trên xác các con tàu đắm dưới lòng đại dương như Hội An (Đà Nẵng) hay Pandanan (Philippines) hoặc tại các di tích khảo cổ học trên đất liền ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, Tây Á và Nhật Bản phần lớn được giới chuyên môn trong và ngoài nước nhanh chóng đưa ra nhận xét rằng, đây là sản phẩm gốm Chu Đậu (Hải Dương) cùng với những lời bình khá sôi nổi.

Phát hiện gây tiếng vang lớn là tàu đắm Hội An vào những năm cuối của thế kỷ trước. Người ta gọi đây là "kho báu dưới lòng đại dương Hội An". Lần đầu tiên chúng ta mới tận mắt được nhìn thấy nhiều loại gốm đẹp hoàn hảo mà không một bảo tàng nổi tiếng nào ở trong nước và thế giới có được. Trong số đó, có số lượng lớn nhất là đồ gốm hoa lam và đồ gốm vẽ nhiều màu, số lượng ít hơn là gốm men trắng, men ngọc và men nâu.

Trong công trình nghiên cứu trước, khi bàn về đồ gốm Việt Nam tìm thấy trên tàu đắm Hội An, chúng tôi đã phân tích và đưa ra nhận xét rằng, lô hàng gốm trên con tàu này có nhiều loại hình, nhiều phong cách và chất lượng của nó cũng rất khác nhau. Sự đa dạng về loại hình, về phong cách và chất lượng sản phẩm phản ánh rằng, con tàu này đã mua gốm từ nhiều lò khác nhau, và đây là nguồn hàng phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng của nhiều tầng lớp khác nhau trên thị trường Đông Nam Á (Bùi Minh Trí 2001: 56).

Những kết quả nghiên cứu so sánh của tôi trong nhiều năm qua cho thấy, trong số đồ gốm xuất khẩu của Việt Nam thời Lê sơ, có rất nhiều sản phẩm là của lò gốm Thăng Long. Sự tham gia mậu dịch đường dài của gốm Thăng Long được khẳng định rõ ràng và chắc chắn qua hàng loạt phát hiện về những đồ gốm cao cấp, trang trí hoa văn rồng, phượng giống như đồ gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long được lấy lên từ xác tàu đắm Hội An. Trong hơn 240.000 đồ gốm tìm thấy trên con tàu đắm này, có rất nhiều đồ gốm cao cấp mà chất lượng, phong cách và kỹ thuật chế tác của nó có sự khác biệt và vượt trội hơn hẳn so với những sản phẩm gốm lò Chu Đậu hay Ngói (Hải Dương). Bằng chứng sáng giá nhất trong bối cảnh này là các loại đồ gốm hoa lam cao cấp vẽ đồ án rồng, phượng, các loại gốm trắng mỏng in hoa mai dây hay văn sóng nước, các loại đồ gốm vẽ nhiều màu và dát vàng thật lên trên đồ án hoa văn, ví dụ như pho tượng nữ quí tộc Đại Việt hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam (xem Hình 19) (Bùi Minh Trí 2011: 231-255).

 

Hình 19: Tượng nữ quý tộc Đại Việt, vẽ nhiều màu và dát vàng trên men hình chim hạc, hoa sen và văn mây. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Khai quật được trên tàu đắm Hội An. Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

(Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

Ngoài bằng chứng chắc chắn về đồ gốm Thăng Long tìm thấy tại lâu đài Shuri (Okinawa) nêu trên, khu di tích Hoàng thành Thăng Long, lần đầu tiên đã tìm được 2 mảnh gạch trang trí tranh tường vẽ hoa cúc dây và hoa mẫu đơn dây giống như loại gạch tranh tường của Việt Nam khai quật được tại các di tích kiến trúc Hồi giáo ở Indonesia như Majapahit, Kudus tại miền Đông Java. Nghiên cứu so sánh thì đây là những mảnh của loại gạch có hình tứ giác, mang phong cách đặc trưng và tương tự như loại gạch trang trí trên cổng đền thờ Masjib Menara ở Kudus (Hình 20-22). Đây là bằng chứng thuyết phục về việc sản xuất đồ gốm xuất của lò Thăng Long thời Lê sơ. Bởi lẽ, theo nhiều nhà nghiên cứu, những loại gạch tranh tường này chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng của cư dân Hồi giáo (John Guy 1997: 46-61).

Như vậy, qua những bằng chứng nêu trên có thể nói rằng, các lò gốm thời Lê sơ ở Thăng Long không những chuyên sản xuất các đồ gốm dùng trong Hoàng cung mà còn sản xuất cả những đồ gốm phục vụ xuất khẩu ra thị trường nhiều nước trên thế giới.

Nghiên cứu hành trình của chuyến hàng từ điểm đi và điểm đến chắc chắn sẽ cho chúng ta hình dung dễ dàng hơn về sự tham gia mậu dịch đường dài của gốm Thăng Long trong lịch sử thương mại biển châu Á thế kỷ 15, đồng thời cho thấy mối quan hệ, sự giao lưu văn hoá, kinh tế giữa Kinh đô Thăng Long với các nước trong khu vực trong quá khứ (Bùi Minh Trí 2003: 58; 2008: 55-63).

 

 
 
Hình 20-21: Gạch trang trí tranh tường vẽ hoa mẫu đơn và hoa cúc dây, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Khai quật được tại Hoàng thành Thăng Long.   Hình 22: Gạch trang trí tranh tường vẽ hoa mẫu đơn dây, thời Lê sơ, thế kỷ 15. Tìm thấy tại Indonesia. Sưu tập của Jack Bogart. (John Stevenson and John Guy 1997, Fig.321, p. 347).

 

4. KẾT LUẬN

Những khám phá quan trọng của khảo cổ học tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã mở ra những trang sử mới trong việc nghiên cứu về Kinh đô Thăng Long trên nhiều phương diện. Bên cạnh những khám phá quan trọng về các dấu tích kiến trúc cung điện, lầu gác, dưới lòng đất khu di tích đã tìm được vô số đồ dùng, vật dụng, trong đó phần nhiều là đồ gốm, phản ánh sinh động đời sống Hoàng cung qua các triều đại.

Cũng từ đây, lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu, khái niệm về đồ gốm cao cấp của Việt Nam chuyên chế cho nhà vua sử dụng hay những đồ gốm dành cho vương hậu hoặc chung cho Hoàng tộc, triều đình được nhận biết khá rõ ràng. Những bằng chứng về sự tồn tại của các lò quan ở Thăng Long chuyên chế tác đồ gốm phục vụ cho Hoàng cung trong suốt thời gian ngự trị của các vương triều Lý, Trần, Lê (thế kỷ 11-16) cũng đã có đủ cơ sở để khẳng định. Bên cạnh việc sản xuất các loại hình đồ gốm phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong Hoàng cung, thời Trần và thời Lê sơ, gốm Thăng Long còn tham gia vào thị trường xuất khẩu đồ gốm.

 

TÀI LIỆU DẪN

  1. Bùi Minh Trí - Kerry Nguyễn Long 2001: Vietnamese Blue & White Ceramics, Social Sciences Publishing House;
  2. Bùi Minh Trí 2003: Tìm hiểu ngoại thương Việt Nam qua "con đường gốm sứ trên biển", Khảo cổ học, số 5, tr.49-74;
  3. Bùi Minh Trí 2006: Nét đẹp đồ gốm Hoàng cung Thăng Long, trong Hoàng thành Thăng Long, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.66-98;
  4. Bùi Minh Trí 2008: La céramique Vietnamienne blue et blanc et polychrome aux 15 et 16 siècles, Art Ancien du Vietnam, Collection Baur, Genève, pp.55-63;
  5. Bùi Minh Trí 2011: Phụ nữ quí tộc Đại Việt qua di vật khảo cổ học Thăng Long, Phụ nữ Việt Nam trong di sản văn hóa dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 231-255;
  6. Tống Trung Tín - Bùi Minh Trí 2010: Thăng Long - Hà Nội, Thousand Year History Underground, Social Sciences Publishing House;
  7. John Stevenson and John Guy 1997: Vietnamese Ceramics - A separate Tradition, Singapore;
  8. John Guy 1997: Vietnamese Ceramics in International Trade, Vietnamese Ceramics - A separate Tradition, Singapore, pp.47-61;
  9. Kerry Nguyễn - Long 2001: A record of Vietnamese Blue and White Ceramics in Export context, Vietnamese Blue & White Ceramics, Social Sciences Publishing House, pp.163-191;
  10. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập IV, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1973.

 

Hình 23: Bình men trắng, vai có 4 quai ngang, thân trang trí khắc chìm hình rồng. Gốm Thăng Long, thời Lê sơ, thế kỷ 15. (Ảnh: Bùi Minh Trí)

 

 



[1] Lâu đài Shuri được xây dựng khoảng vào thế kỉ thứ 12. Sau vài trăm năm nội chiến giữa các lãnh chúa, các hòn đảo ở Okinawa đã được thống nhất lại thành Vương quốc Ryukyus vào đầu thế kỉ 15. Trong suốt 450 năm sau, lâu đài Shuri là cung điện của nhà vua Ryukyus.

 

PGS.TS. Bùi Minh Trí

(Thông báo Khoa học năm 2014)